Egypt Israel Oct 2007




Bấm nút "Download Now"
để cài Windows Media Player. 
Windows Media Player 11
Download Now

Windows Media Download Center
 

DUKE TEST 2

Mục tiêu: Đặt lại toàn bộ các vấn đề tưởng chừng như rất bình thường để khám phá ra những ánh sáng tuyệt diệu hàm ẩn trong đó. Phương thế: Nhìn mọi vấn đề Theo Ánh Mắt Tâm Linh. Đây là một món ăn mang mùi vị khá đặc biệt, có thể lúc đầu hơi đắng, gây khó chịu chút xíu, nhưng càng thưởng thức, càng cảm thấy thú vị ngọt ngào. Xin quý vị vui lòng nếm thử cho biết hương vị.


Thursday, June 30, 2005

DẤN THÂN RA KHƠI – LOAN BÁO TIN MỪNG

I. DẤN THÂN RA KHƠI
Dấn thân - Ra khơi khởi đi từ đâu ?
Trước đây ta cứ tưởng ra khơi chỉ đơn giản là ra khỏi nhà mình và ta phải dấn thân vào nơi thử thách, trở ngại như những sóng gió giữa biển khơi mịt mùng đầy bão tố và nguy hiểm. Ta sẽ phải chiến đấu trong một trận chiến thiêng liêng đầy cam go và thử thách với Satan và bè lũ của chúng.
Nhưng theo ánh mắt tâm linh ra khơi chính là ra khỏi Căn Nhà Tù Túng Cái Ta Của Mình để bơi lội trong biển khơi bát ngát nghìn trùng của tình yêu Chúa. Nói cách khác, đó chính là những giây phút sống kết hiệp thân mật với Chúa. Đốt tàu cũng vậy, đó chính là đốt con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối - kể cả những lừa dối rất dỗi thánh thiện như những trường hợp thúc giục nhau đi Loan Báo Tin Mừng như vẹt. Vậy ta phải đốt con người cũ để mặc con người mới - là con người đã đuợc sinh ra theo hình ảnh của Thiên Chúa. Như thế, ra khơi hay đốt tàu chính là từ bỏ cái ta - sống kết hiệp với Chúa để nếm thử, để cảm nghiệm hương vị ngọt ngào, bình an và hoan lạc trong Thần Khí của Ngài. Chính niềm bình an và hoan lạc này là Tin mừng đang toả hương ngọt ngào trong ta.
II. LOAN BÁO TIN MỪNG
Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của chúng ta phải theo tuyên ngôn của Đức Giêsu. Ta xin giới thiệu câu Kinh Thánh rất quen thuộc làm nền tảng:
Thần Khí Chúa ngự trên ta, vì Chúa đã xức dầu tấn phong ta, để ta loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai ta đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức,(Lc 14:18)
Trước hết ta xin mạn phép nói cách khác cho dễ hiểu hơn
Thần Khí Chúa ngự trên ta,
vì Chúa đã xức dầu tấn phong ta,
để ta loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
Người đã sai ta đi công bố
cho kẻ bị giam cầm biết họ vốn tự do
cho người mù biết họ vốn sáng mắt,
cho người bị áp bức biết họ vốn ung dung thoải mái
Đây không phải là ta dám cả gan sửa lại Lời Chúa, nhưng ta chỉ nói cách khác - một cách cho người bình dân dễ hiểu mà thôi.
Ta xin phép phân tích lại từng đoạn

1. ĐIỀU KIỆN CỦA LOAN BÁO TIN MỪNG
Điều kiện buộc phải có cho Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng chính là cảm nhận thực sự Thần Khí Chúa ngự trên ta với một niềm xác tín sâu xa và sống động. Như ta đã chia sẻ trong những bài trước, muốn cảm nhận Thánh Thần hiện diện và sống trong tâm mình thì trước hết phải tin rằng :
Ta là con Thiên Chúa, do chính Ngài sinh ra - ta phải nội tâm hoá lời Chúa trong Tin Mừng Gioan
Ta được sinh ra, không phải do khí huyết,
cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
hoặc do ước muốn của người đàn ông,
nhưng do bởi Thiên Chúa.(Ga 1:13)
Trước khi sinh ta ra, Ngài đã chuẩn bị cho ta rất chu đáo: Ngài đã thánh hoá từng người trong chúng ta bằng chính Thần khí của Ngài, nhờ đó ta vốn thánh thiện từ đầu đến chân. Và Ngài xức dầu tấn phong ta làm ngôn sứ cho muôn dân - không phải dùng dầu Ô-liu, nhưng Chúa Cha đã dùng Thánh Thần mà thánh hiến ta, tiền định cho ta làm ngôn sứ. Có như vậy Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của ta mới danh chính ngôn thuận bởi chính Chúa đã giao trọng trách này cho ta ngay từ khi ta còn trong lòng mẹ cơ mà.
"Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi;
trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi,
Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."(Gr 1:5)
Còn khi ta chịu phép thánh tảy thì cũng như Đức Giêsu ngày xưa, trước khi lên đường Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng, ta đã lãnh nhận sứ mạng do chính Chúa Cha một cách công khai trước linh mục, cha mẹ, ho hàng…
Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người.17 Và có tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người."(Mt 3:16-17)
Như vậy, tự bản chất, ta đã là ngôn sứ của Chúa, nhờ Thần Khí Chúa ngự trên ta – và đây cũng chính là điều kiện căn bản của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng. Thiếu điều kiện này thì Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng lập tức sẽ rơi vào khủng hoảng cho cả người loan báo lẫn người-bị-nghe-Tin-Mừng vì không có sức sống của Thần khí Thiên Chúa. Từ khám phá tuyệt vời này, quan niệm ta thay đổi hoàn toàn. Ta bắt đầu tập sống với Chúa với tư cách một người con yêu dấu của Ngài, nhờ sức mạnh của Thần Khí ngay trong tâm mình. Quả thật ta cảm nhận rõ ràng mình nghiệm được hương vị bình an và hoan lạc trong Thánh Thần và đây cũng chính là Tin Mừng mà ta cần phải loan báo cho người khác.
Xin quý vị lưu ý: Thần Khí Chúa ngự trên ta không có nghĩa là có ông Thánh Thần ngự ở bên trên đầu ta như vị chỉ huy, nhưng thực ra Thần Khí Chúa ở ngay trong tâm ta, là nguồi sống, nguồn bình an, nguồn hoan lạc, chính sự sống viên mãn và niềm bình an hoan lạc này đã trở thành tin mừng đích thực mà Chúa muốn náo nức chia sẻ với người khác qua lời nói và cuộc sống thường ngày của ta. Câu Kinh Thánh mà ta rất tâm đắc chứng tỏ điều này: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta(Rm 5:5)

2. LOAN BÁO TIN MỪNG CHO KẺ NGHÈO HÈN
Ai là người nghèo hèn? Tất cả những ai chưa nhận ra con người đích thực của mình. Trước đây, ta chưa nhận ra con người đích thực của mình. Ta chỉ nhìn thấy con người xác thịt của mình nên ta cảm thấy mình quả là nghèo hèn trước mặt Chúa. Chúa ngàn trùng thánh đức còn ta là vật mọn phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi, chẳng đáng Chúa ngự vào lòng. Ta đã kéo lê cuộc sống đấy chản nản và đau khổ, vui ít, buồn nhiều. Tối ngày chạy theo những đam mê, dục vọng trần gian như con thiêu thân. Đúng là kẻ vừa nghèo vừa hèn.

3. NGÀI SAI TA ĐI CÔNG BỐ
Một trong những việc chủ yếu của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng chính là công bố điều mình đã xác tín, đã sống, đã cảm nghiệm chứ không phải cung cấp cho họ một mớ lý thuyết suông. Theo thứ tự từ dễ tới khó, từ thấp lên cao, từ tiểu học tới đại học. Con đường tâm linh không nhất thiết cần phải có kiến thức cao hay sâu. Kiến thức cao sâu là một con dao hai lưỡi rất lợi hại: Nó có thể giúp ta tiến rất nhanh, nhưng cũng có thể làm ta xơ cứng vì đầu óc ta đầy ắp những kiến thức mà ta cho là khuôn vàng thước ngọc. Như vậy, Loan Báo Tin Mừng chủ yếu chỉ cần công bố cho người khác thông qua việc chia sẻ cảm nghiệm bằng chính đời sống và niềm xác tín của mình. Chứng nhân quý hơn thầy dạy.

4. CHO NGƯỜI MÙ BIẾT HỌ VỐN SÁNG MẮT
Trong một buổi chia sẻ Lời Chúa về đoạn Tin Mừng nói về người mù từ lúc mới sinh, tôi đã từng chia sẻ với anh em. Tôi khám phá ra rằng: tôi vốn sáng ngay con trong lòng mẹ, nhưng rồi sống giữa trần gian, tình, tiền, tài, danh vọng, sắc dục đã làm tôi mờ mắt và tâm trí trở nên mê muội, càng chạy theo đam mê thế gian, mắt tôi càng mờ hơn… cho tới khi tôi đọc Kinh Thánh và cá nhân hoá mình với Giêrêmia, tôi mới chợt nhận ra bấy lâu nay mình vốn sáng mắt mà mình không biết.
Trong khi nghe tôi chia sẻ, anh huynh trưởng của tôi - người chủ trì phiên họp - có vẻ không đồng ý lắm và cuối cùng trong lúc đúc kết, anh mạnh mẽ khẳng định với anh em rằng: Tất cả chúng tôi đều mù từ lúc mới sinh vì Kinh Thánh viết rõ như thế - mù từ lúc mới sinh.
Vì tôn trọng anh, tôi không muốn tranh luận hay dồn anh vào thế bí. Nếu tôi đặt cho anh 2 vấn nạn, không biết anh sẽ trả lời sao đây:
• Ta là con của Chúa do chính Chúa sinh ra, mang hình ảnh của Thiên Chúa, mà Chúa là ánh sáng thì ta – hình ảnh của Chúa - làm sao lại mù tối được, hay là anh huynh trưởng của ta lại cho rằng Chúa cũng mù nốt ?
• Nếu ta mù từ lúc mới sinh thì chắc chắn ta không chịu trách nhiệm gì về những tội lỗi ta đã gây ra, mà người chịu trách nhiệm đó: chính là Chúa. Vì Chúa sinh ra ta chứ không phải quỷ hay Satan sinh ra thằng ta mù tối này. Thí dụ như một người con mù từ lúc mới sinh, nến nó đụng phải bình rượu quý vỡ tan tành, hay vô tình cầm dao làm chết người khác thì ta nghĩ: không một người cha nhân lành nào lại kết án và phạt nó phải chết (hình ảnh của hoả ngục: chết muôn đời).
Anh mù ở Bét-xai-đa không sáng mắt ngay lập tức, bắt đầu thấy người ta lờ mờ như cây cối đi, rồi mới dân dần mới rõ hẳn. Ta cũng vậy, sau hơn ba mươi năm gần như mù, quá trình thấy của ta xảy ra tất chậm, hàng mấy năm trời mới thấy khá rõ, và bây giờ, ngày càng thấy rõ hơn. Cuối cùng ta chợt khám phá ra một điều cực kỳ thú vị: hoá ra mình vốn sáng mắt chứ có phải mù tối đâu. Nói cách khác, ta đã bay vào vùng ánh sáng:
Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền (1Pr 2:9)
Một khi mắt đã sáng rõ trở lại, thì lập tức cũng thấy mình vốn tự do thoải mái, không còn cảm thấy mình bị giam cầm hay bị áp bức nữa.
Bởi vì Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do (2Cr 3:17).
Sáng nay, bất ngờ đọc cuốn “Thánh Gioan Thánh Giá ”, tôi rất thích thú khi biết nguồn gốc của thuật ngữ Ngôn Sứ trong tiếng Hipri: (trang 20-21)
• Ro’eh : Người nhìn thấy
• Nabhi : Người công bố, Người làm chứng
Sứ điệp đầu tiên của vị Ngôn sứ là cuộc sống của ông, là kinh nghiệm riêng tư của ông về Thiên Chúa, kinh nghiệm làm cho ông thành một ngôn sứ đích thực
Như vậy, ngôn sứ đích thực phải là người nhìn thấy. Nhìn thấy gì? Nhìn thấy gương mặt đích thực của mình và niềm hạnh phúc mình đang vui hưởng, lúc đó mình mới công bố điều mình đã khám phá, đã cảm nghiệm, đã sống ngay trong đời sống bình thường của đời mình.
Như thế, điều quan trọng là: Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng đòi hỏi phải loan báo cho chính mình trước đã, rồi mới dấn thân loan báo cho người khác. Xin mạn phép kể ra một vài bước chuẩn bị như sau:
1. Xác tín mình là con yêu dấu của Ngài. Ngay từ trong lòng mẹ, Chúa dùng Thần Khí của Ngài để thánh hoá ta và sai ta làm ngôn sứ cho muôn dân.
2. Vì thế, dù chưa mở mắt chào đời, chưa bíêt lên tiếng cầu xin thì Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Ngài vào lòng ta. Vì thế tâm hồn ta tràn đầy Thần Khí Ngài. Nhờ đó, bản chất ta vốn thánh thiện, mạnh mẽ, sẵn sàng lên đường làm ngôn sứ của Ngài.
3. Trong khi thực hiện sứ mạng Ngôn Sứ, Khám phá tới đâu, ta chia sẻ tới đó; cảm nghiệm tới đâu, ta công bố tới đó. Và ngay trong khi ta chia sẻ lại là lúc ta cảm nghiệm điều mình nói một cách sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất và niềm xác tín này càng ngày càng vững chắc hơn.
Tóm lại, qua bài chia sẻ này, tôi chỉ muốn kể lại những điều tôi đã chứng kiến tận mắt, và đặc biệt là những cảm nghiệm thú vị tuyệt vời mà tôi đã và đang nếm hưởng trong việc Loan Báo Tin Mừng cho chính con người của mình, trước khi Loan Báo Tin Mừng cho những anh chị em khác.
John of God Khổng Nhuận
Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • DẤN THÂN RA KHƠI – LOAN BÁO TIN MỪNG

    John of God Khổng Nhuận

    I. DẤN THÂN RA KHƠI
    Dấn thân - Ra khơi khởi đi từ đâu ?
    Trước đây ta cứ tưởng ra khơi chỉ đơn giản là ra khỏi nhà mình và ta phải dấn thân vào nơi thử thách, trở ngại như những sóng gió giữa biển khơi mịt mùng đầy bão tố và nguy hiểm. Ta sẽ phải chiến đấu trong một trận chiến thiêng liêng đầy cam go và thử thách với Satan và bè lũ của chúng.
    Nhưng theo ánh mắt tâm linh ra khơi chính là ra khỏi Căn Nhà Tù Túng Cái Ta Của Mình để bơi lội trong biển khơi bát ngát nghìn trùng của tình yêu Chúa. Nói cách khác, đó chính là những giây phút sống kết hiệp thân mật với Chúa. Đốt tàu cũng vậy, đó chính là đốt con người cũ với nếp sống xưa, là con người phải hư nát vì bị những ham muốn lừa dối - kể cả những lừa dối rất dỗi thánh thiện như những trường hợp thúc giục nhau đi Loan Báo Tin Mừng như vẹt. Vậy ta phải đốt con người cũ để mặc con người mới - là con người đã đuợc sinh ra theo hình ảnh của Thiên Chúa. Như thế, ra khơi hay đốt tàu chính là từ bỏ cái ta - sống kết hiệp với Chúa để nếm thử, để cảm nghiệm hương vị ngọt ngào, bình an và hoan lạc trong Thần Khí của Ngài. Chính niềm bình an và hoan lạc này là Tin mừng đang toả hương ngọt ngào trong ta.
    II. LOAN BÁO TIN MỪNG
    Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của chúng ta phải theo tuyên ngôn của Đức Giêsu. Ta xin giới thiệu câu Kinh Thánh rất quen thuộc làm nền tảng:
    Thần Khí Chúa ngự trên ta, vì Chúa đã xức dầu tấn phong ta, để ta loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. Người đã sai ta đi công bố cho kẻ bị giam cầm biết họ được tha, cho người mù biết họ được sáng mắt, trả lại tự do cho người bị áp bức,(Lc 14:18)
    Trước hết ta xin mạn phép nói cách khác cho dễ hiểu hơn
    Thần Khí Chúa ngự trên ta,
    vì Chúa đã xức dầu tấn phong ta,
    để ta loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn.
    Người đã sai ta đi công bố
    cho kẻ bị giam cầm biết họ vốn tự do
    cho người mù biết họ vốn sáng mắt,
    cho người bị áp bức biết họ vốn ung dung thoải mái
    Đây không phải là ta dám cả gan sửa lại Lời Chúa, nhưng ta chỉ nói cách khác - một cách cho người bình dân dễ hiểu mà thôi.
    Ta xin phép phân tích lại từng đoạn

    1. ĐIỀU KIỆN CỦA LOAN BÁO TIN MỪNG
    Điều kiện buộc phải có cho Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng chính là cảm nhận thực sự Thần Khí Chúa ngự trên ta với một niềm xác tín sâu xa và sống động. Như ta đã chia sẻ trong những bài trước, muốn cảm nhận Thánh Thần hiện diện và sống trong tâm mình thì trước hết phải tin rằng :
    Ta là con Thiên Chúa, do chính Ngài sinh ra - ta phải nội tâm hoá lời Chúa trong Tin Mừng Gioan
    Ta được sinh ra, không phải do khí huyết,
    cũng chẳng do ước muốn của nhục thể,
    hoặc do ước muốn của người đàn ông,
    nhưng do bởi Thiên Chúa.(Ga 1:13)
    Trước khi sinh ta ra, Ngài đã chuẩn bị cho ta rất chu đáo: Ngài đã thánh hoá từng người trong chúng ta bằng chính Thần khí của Ngài, nhờ đó ta vốn thánh thiện từ đầu đến chân. Và Ngài xức dầu tấn phong ta làm ngôn sứ cho muôn dân - không phải dùng dầu Ô-liu, nhưng Chúa Cha đã dùng Thánh Thần mà thánh hiến ta, tiền định cho ta làm ngôn sứ. Có như vậy Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng của ta mới danh chính ngôn thuận bởi chính Chúa đã giao trọng trách này cho ta ngay từ khi ta còn trong lòng mẹ cơ mà.
    "Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi;
    trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi,
    Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."(Gr 1:5)
    Còn khi ta chịu phép thánh tảy thì cũng như Đức Giêsu ngày xưa, trước khi lên đường Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng, ta đã lãnh nhận sứ mạng do chính Chúa Cha một cách công khai trước linh mục, cha mẹ, ho hàng…
    Khi Đức Giê-su chịu phép rửa xong, vừa ở dưới nước lên, thì các tầng trời mở ra. Người thấy Thần Khí Thiên Chúa đáp xuống như chim bồ câu và ngự trên Người.17 Và có tiếng từ trời phán: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người."(Mt 3:16-17)
    Như vậy, tự bản chất, ta đã là ngôn sứ của Chúa, nhờ Thần Khí Chúa ngự trên ta – và đây cũng chính là điều kiện căn bản của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng. Thiếu điều kiện này thì Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng lập tức sẽ rơi vào khủng hoảng cho cả người loan báo lẫn người-bị-nghe-Tin-Mừng vì không có sức sống của Thần khí Thiên Chúa. Từ khám phá tuyệt vời này, quan niệm ta thay đổi hoàn toàn. Ta bắt đầu tập sống với Chúa với tư cách một người con yêu dấu của Ngài, nhờ sức mạnh của Thần Khí ngay trong tâm mình. Quả thật ta cảm nhận rõ ràng mình nghiệm được hương vị bình an và hoan lạc trong Thánh Thần và đây cũng chính là Tin Mừng mà ta cần phải loan báo cho người khác.
    Xin quý vị lưu ý: Thần Khí Chúa ngự trên ta không có nghĩa là có ông Thánh Thần ngự ở bên trên đầu ta như vị chỉ huy, nhưng thực ra Thần Khí Chúa ở ngay trong tâm ta, là nguồi sống, nguồn bình an, nguồn hoan lạc, chính sự sống viên mãn và niềm bình an hoan lạc này đã trở thành tin mừng đích thực mà Chúa muốn náo nức chia sẻ với người khác qua lời nói và cuộc sống thường ngày của ta. Câu Kinh Thánh mà ta rất tâm đắc chứng tỏ điều này: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta(Rm 5:5)

    2. LOAN BÁO TIN MỪNG CHO KẺ NGHÈO HÈN
    Ai là người nghèo hèn? Tất cả những ai chưa nhận ra con người đích thực của mình. Trước đây, ta chưa nhận ra con người đích thực của mình. Ta chỉ nhìn thấy con người xác thịt của mình nên ta cảm thấy mình quả là nghèo hèn trước mặt Chúa. Chúa ngàn trùng thánh đức còn ta là vật mọn phàm hèn, yếu đuối, tội lỗi, chẳng đáng Chúa ngự vào lòng. Ta đã kéo lê cuộc sống đấy chản nản và đau khổ, vui ít, buồn nhiều. Tối ngày chạy theo những đam mê, dục vọng trần gian như con thiêu thân. Đúng là kẻ vừa nghèo vừa hèn.

    3. NGÀI SAI TA ĐI CÔNG BỐ
    Một trong những việc chủ yếu của Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng chính là công bố điều mình đã xác tín, đã sống, đã cảm nghiệm chứ không phải cung cấp cho họ một mớ lý thuyết suông. Theo thứ tự từ dễ tới khó, từ thấp lên cao, từ tiểu học tới đại học. Con đường tâm linh không nhất thiết cần phải có kiến thức cao hay sâu. Kiến thức cao sâu là một con dao hai lưỡi rất lợi hại: Nó có thể giúp ta tiến rất nhanh, nhưng cũng có thể làm ta xơ cứng vì đầu óc ta đầy ắp những kiến thức mà ta cho là khuôn vàng thước ngọc. Như vậy, Loan Báo Tin Mừng chủ yếu chỉ cần công bố cho người khác thông qua việc chia sẻ cảm nghiệm bằng chính đời sống và niềm xác tín của mình. Chứng nhân quý hơn thầy dạy.

    4. CHO NGƯỜI MÙ BIẾT HỌ VỐN SÁNG MẮT
    Trong một buổi chia sẻ Lời Chúa về đoạn Tin Mừng nói về người mù từ lúc mới sinh, tôi đã từng chia sẻ với anh em. Tôi khám phá ra rằng: tôi vốn sáng ngay con trong lòng mẹ, nhưng rồi sống giữa trần gian, tình, tiền, tài, danh vọng, sắc dục đã làm tôi mờ mắt và tâm trí trở nên mê muội, càng chạy theo đam mê thế gian, mắt tôi càng mờ hơn… cho tới khi tôi đọc Kinh Thánh và cá nhân hoá mình với Giêrêmia, tôi mới chợt nhận ra bấy lâu nay mình vốn sáng mắt mà mình không biết.
    Trong khi nghe tôi chia sẻ, anh huynh trưởng của tôi - người chủ trì phiên họp - có vẻ không đồng ý lắm và cuối cùng trong lúc đúc kết, anh mạnh mẽ khẳng định với anh em rằng: Tất cả chúng tôi đều mù từ lúc mới sinh vì Kinh Thánh viết rõ như thế - mù từ lúc mới sinh.
    Vì tôn trọng anh, tôi không muốn tranh luận hay dồn anh vào thế bí. Nếu tôi đặt cho anh 2 vấn nạn, không biết anh sẽ trả lời sao đây:
    • Ta là con của Chúa do chính Chúa sinh ra, mang hình ảnh của Thiên Chúa, mà Chúa là ánh sáng thì ta – hình ảnh của Chúa - làm sao lại mù tối được, hay là anh huynh trưởng của ta lại cho rằng Chúa cũng mù nốt ?
    • Nếu ta mù từ lúc mới sinh thì chắc chắn ta không chịu trách nhiệm gì về những tội lỗi ta đã gây ra, mà người chịu trách nhiệm đó: chính là Chúa. Vì Chúa sinh ra ta chứ không phải quỷ hay Satan sinh ra thằng ta mù tối này. Thí dụ như một người con mù từ lúc mới sinh, nến nó đụng phải bình rượu quý vỡ tan tành, hay vô tình cầm dao làm chết người khác thì ta nghĩ: không một người cha nhân lành nào lại kết án và phạt nó phải chết (hình ảnh của hoả ngục: chết muôn đời).
    Anh mù ở Bét-xai-đa không sáng mắt ngay lập tức, bắt đầu thấy người ta lờ mờ như cây cối đi, rồi mới dân dần mới rõ hẳn. Ta cũng vậy, sau hơn ba mươi năm gần như mù, quá trình thấy của ta xảy ra tất chậm, hàng mấy năm trời mới thấy khá rõ, và bây giờ, ngày càng thấy rõ hơn. Cuối cùng ta chợt khám phá ra một điều cực kỳ thú vị: hoá ra mình vốn sáng mắt chứ có phải mù tối đâu. Nói cách khác, ta đã bay vào vùng ánh sáng:
    Còn anh em, anh em là giống nòi được tuyển chọn, là hàng tư tế vương giả, là dân thánh, dân riêng của Thiên Chúa, để loan truyền những kỳ công của Người, Đấng đã gọi anh em ra khỏi miền u tối, vào nơi đầy ánh sáng diệu huyền (1Pr 2:9)
    Một khi mắt đã sáng rõ trở lại, thì lập tức cũng thấy mình vốn tự do thoải mái, không còn cảm thấy mình bị giam cầm hay bị áp bức nữa.
    Bởi vì Chúa là Thần Khí, và ở đâu có Thần Khí của Chúa, thì ở đó có tự do (2Cr 3:17).
    Sáng nay, bất ngờ đọc cuốn “Thánh Gioan Thánh Giá ”, tôi rất thích thú khi biết nguồn gốc của thuật ngữ Ngôn Sứ trong tiếng Hipri: (trang 20-21)
    • Ro’eh : Người nhìn thấy
    • Nabhi : Người công bố, Người làm chứng
    Sứ điệp đầu tiên của vị Ngôn sứ là cuộc sống của ông, là kinh nghiệm riêng tư của ông về Thiên Chúa, kinh nghiệm làm cho ông thành một ngôn sứ đích thực
    Như vậy, ngôn sứ đích thực phải là người nhìn thấy. Nhìn thấy gì? Nhìn thấy gương mặt đích thực của mình và niềm hạnh phúc mình đang vui hưởng, lúc đó mình mới công bố điều mình đã khám phá, đã cảm nghiệm, đã sống ngay trong đời sống bình thường của đời mình.
    Như thế, điều quan trọng là: Công Cuộc Loan Báo Tin Mừng đòi hỏi phải loan báo cho chính mình trước đã, rồi mới dấn thân loan báo cho người khác. Xin mạn phép kể ra một vài bước chuẩn bị như sau:
    1. Xác tín mình là con yêu dấu của Ngài. Ngay từ trong lòng mẹ, Chúa dùng Thần Khí của Ngài để thánh hoá ta và sai ta làm ngôn sứ cho muôn dân.
    2. Vì thế, dù chưa mở mắt chào đời, chưa bíêt lên tiếng cầu xin thì Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Ngài vào lòng ta. Vì thế tâm hồn ta tràn đầy Thần Khí Ngài. Nhờ đó, bản chất ta vốn thánh thiện, mạnh mẽ, sẵn sàng lên đường làm ngôn sứ của Ngài.
    3. Trong khi thực hiện sứ mạng Ngôn Sứ, Khám phá tới đâu, ta chia sẻ tới đó; cảm nghiệm tới đâu, ta công bố tới đó. Và ngay trong khi ta chia sẻ lại là lúc ta cảm nghiệm điều mình nói một cách sâu sắc nhất, mãnh liệt nhất và niềm xác tín này càng ngày càng vững chắc hơn.
    Tóm lại, qua bài chia sẻ này, tôi chỉ muốn kể lại những điều tôi đã chứng kiến tận mắt, và đặc biệt là những cảm nghiệm thú vị tuyệt vời mà tôi đã và đang nếm hưởng trong việc Loan Báo Tin Mừng cho chính con người của mình, trước khi Loan Báo Tin Mừng cho những anh chị em khác.
    John of God Khổng Nhuận
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • ĐỜI SAU Theo ánh mắt tâm linh

    Khổng Nhuận

    Đời sau gắn liền với sự chết. Giờ chết điểm, con người sẽ phải giã từ người thân, bỏ dở bao nhiêu mộng đẹp, vĩnh biệt tất cả..toàn là hình ảnh khiến cho lòng đau đớn, cho tim tan nát, cho trí cuồng điên. Đời sau như vùng đất cấm chẳng ai muốn bước vào, như khu rừng hoang chẳng ai thèm quan tâm.
    Đời sau mở ra ba hướng đi: Thiên Đàng, luyện ngục, hoả ngục.
    Trong bài chia sẻ này, chúng ta chỉ tập trung vào một hướng đi hấp dẫn: Thiên Đàng.
    I. Quan niệm nhân loại
    1. Nơi chốn
    Tuy không ai xác định rõ vị trí nó nằm ở đâu, nhưng người ta thường hiểu Thiên Đàng ỏ trên thượng giới. Sách Công vụ kể lại chuyện Đức Giêsu qua các tầng mây bay về trời đã khiến người dễ tưởng tượng Thiên Đàng ở trên ngàn tầng trời cao vút…
    2. Thời gian
    Người ta chỉ có thể hưởng Thiên Đàng sau khi chết.
    Có một chuyện vui kể rằng: Một hôm, cha xứ tụ họp các ông bà trong hội đồng giáo xứ và kể về Thiên Đàng vui vẻ tưng bừng, rồi lớn tiếng hỏi:
    Ông bà nào muốn lên Thiên Đàng thì đứng sang bên tay phải của tôi.
    Mọi người líu ríu bước qua. Còn một ông đứng như trời trồng, mặt tỏ vẻ đăm chiêu.
    Cha xứ đầy ngạc nhiên: Ông không muốn lên Thiên Đàng sao?
    Ông ta ấp úng: Chắc chắn là con muốn lên trời sau khi con chết chứ, nhưng con cứ tưởng phải đi tới đó ngay bây giờ!! (Ông ta tưởng phải chết cả đám ngay lúc đó, khiếp quá! Bước đi không nổi).
    3. Điều kiện vào Thiên Đàng
    Phải hoàn toàn sạch tội mới mong bước vào Thiên Đàng.
    Lại một chuyện vui nổi tiếng. Có một cầu thang cao chót vót vươn tới cửa Thiên Đàng. Mỗi người cầm viên phấn ghi những tội của mình trên từng bậc thang. Cha xứ và ông chánh trương cùng chết một lúc. Cha xứ hăm hở lên trước, chẳng mấy chốc ngài đã vội xuống.
    Ông chánh trương ngạc nhiên hỏi: Cha còn xuống đây làm gì?
    Cha xứ e thẹn trả lời: Tôi phải lấy thêm cục phấn nữa và e rằng cả một hộp phấn cũng chưa chắc đã đủ!!!
    Ông chánh trương há hốc mồm: Giêsu Ma!! Lậy Chúa tôi! Với đầu óc ngu muội của con, con cứ tưởng cha có chức thánh thì cùng lắm, cha chỉ mất nửa viên phấn là cha đã bay vút lên tới cửa Thiên Đàng rồi chứ!!!
    Một anh giáo dân nghĩ rằng: Khi giờ chết điểm, chắc chắn anh ta sẽ phải lê lết tới trình diện trước toà uy nghiêm của thẩm phán chí công. Anh ta hy vọng Chúa giàu lòng thương xót chẳng nỡ quẳng anh xuống hoả ngục đầy lửa sinh diêm. Nhưng còn Thiên Đàng thì sao? Không một chút hy vọng nào khi nhìn thấy tấm linh hồn nhớp nhúa đầy vết nhơ tội lỗi của mình - dù toàn là tội nhẹ - và anh ta nắm chắc rằng mình bị giam cầm nơi luyện ngục lâu lắm! rất lâu!! Các thánh mỗi ngày còn lỗi 7 lần cơ mà, huống chi là anh ta chỉ là một người phàm tục, thấp hèn.
    Anh ta còn nhớ như in lời cảnh cáo của Đức Giêsu: Anh sẽ không ra khỏi đó trước khi trả hết đồng kẽm cuối cùng. (Lc 12:59). Tất nhiên đâu chỉ là những đồng xu tính bằng tiền gian lận mà còn hàng ngàn đồng xu khác tính bằng những bê bối, lỗi lầm, những trả thù ác ý, không làm tròn bổn phận với Chúa với người khác, với chính mình. Lâu lâu anh phải đi xưng tôi để giặt lại tấm áo cháo lòng linh hồn của mình. Nhưng rồi vẫn chứng nào tật ấy, anh tiếp tục phạm tội như một tay nghiền ma túy trong tâm tưởng Vì Chúa đã biết từ ngàn xưa rằng thân con bởi tro bụi và được cưu mang trong tội lỗi.
    Anh ta đã tham gia vào các đoàn thể thiếu nhi, giúp lễ. Lớn lên anh hát trong ca đoàn, làm giáo lý viên, thậm chí là thành viên hội đồng giáo xứ. Nhìn bề ngoài anh ta có vẻ rất nhiệt tình, hăng say, đạo đức, nhưng thực chất con người nội tâm của anh vẫn không trở nên vững mạnh nổi. Không tin bạn thử hỏi anh ta mà xem:
    Khi chết đi, anh có tin chắc là mình lập tức được vào Thiên Đàng không?
    Chắc chắc anh ta sẽ khựng lại một chút, vội lướt qua đống tội của mình nhanh như ánh chớp rồi buồn bã trả lời:
    Điều ấy tuỳ thuộc vào lòng nhân lành của Chúa.
    Thật tội nghiệp!! công khó theo Chúa từ tấm bé, hy sinh thời gian, tiền bạc, sức lực, lăn xả vào làm việc cho công trình của Chúa bao nhiêu năm trời… có mỗi một chuyện vào Thiên Đàng thôi mà không nắm chắc trong tay thì thật là phí công phí sức biết bao!!
    Thế thì làm cách nào để nắm vững hoàn toàn mình được vào Thiên Đàng ngay khi giờ chết điểm? Điều kiện quan trọng đầu tiên là phải chuyển từ lối nhìn nhân loại sang lối nhìn theo ánh mắt tâm linh.
    II. Theo ánh mắt tâm linh
    Thiên Đàng theo ánh mắt tâm linh chính là nước Thiên Chúa.
    1. Đặc điểm căn bản của nước Thiên Chúa
    Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. (Rm 14:17).
    Bình an và hoan lạc là niềm hạnh phúc mà ai cũng mơ ước kiếm tìm suốt cả đời nhưng không làm cách nào nắm giữ được. Họ cảm thấy hạnh phúc như bong bóng xà bông rực rỡ muôn màu huyền ảo. Nếu ngắm nhìn thì đẹp tuyệt vời, nhưng vừa đụng vào, nó lập tức vỡ tan, chỉ còn để lại một chút bọt vô vị, nhạt nhẽo. Tại sao vậy? Vì họ lầm tưởng hạnh phúc được xây dựng trên những gì thuộc về thế gian này như tiền tài, danh vọng, đam mê … mà những lạc thú chốn hồng trần này vốn nó luôn luôn biến đổi, nay còn, mai mất. Kể cả bản thân con người, nay sum vầy vui sướng, mai vĩnh biệt xót xa… Hạnh phúc trần gian quả là:
    Phù hoa nối tiếp phù hoa
    Ở đời hết thảy chỉ là phù hoa. (Gs 1:1)
    Vậy bình an va hoan lạc đích thực ở đâu?
    Chắc chắn không ở những gì mang hình tướng nơi trần gian nay, nó cũng không ở nơi bồng lai tiên cảnh hão huyền, xa xôi. Nhưng nó chính là “Bình an và Hoan lạc TRONG THÁNH THẦN”.
    Ai đã một lần thử sống trong Thánh Thần, lập tức sẽ cảm nghiệm được thế nào là hạnh phúc thực sự. Hạnh phúc ở đây không đổi thay như hạnh phúc trần gian lúc hứng khởi, khoái chí như bồng bềnh trên mây trời, lúc đau khổ, tủi nhục như chìm dưới vực sâu; nhưng hạnh phúc thực sự rất sâu lắng, bình an với niềm vui nhẹ nhàng, thanh thoát.
    2. Nơi chốn
    Khi người Do thái hỏi Đức Giêsu về nước Thiên Chúa, Đức Giêsu khẳng định: "Triều Đại Thiên Chúa không đến như một điều có thể quan sát được. Và người ta sẽ không nói: "Ở đây này! hay "Ở kia kìa! , vì này Triều Đại Thiên Chúa đang ở giữa các ông." (Lc 17:20-21). Ở giữa là ở đâu? Chắc chắn không những chỉ ở trên chốn trời cao vô vàn hạnh phúc, mà còn ở ngay tại dưới thế trần này dù phải đối đầu với muôn nỗi khó khăn, cơ cực, đắng cay. Hay nói chính xác và cụ thể hơn: Nước Thiên Chúa ở ngay trong tâm mỗi người chúng ta. Làm sao biết? Bởi vì đặc điểm căn bản của nước Thiên Chúa là công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. (1 Cr 6:19). Như vậy chứng tỏ nước Thiên Chúa ở ngay trong lòng mình. Nói cách khác, dù bất cứ nơi đâu ta sống trong Thánh Thần thì ở đó ta được vui hưởng hoan lạc Thiên Đàng.
    3. Thời gian
    Đức Giêsu đã xác định: Đang ở giữa các ông. Thì ra nước Thiên Chúa đã được khai mạc ngay tại trần gian này vào thời điểm hiện tại vĩnh cửu - ĐANG - chứ không phải trông chờ một nước Thiên Đàng mai sau nơi thế giới bên kia - ở mãi tận phương trời vô định xa xăm nào đó với những mơ ước mong manh diệu vợi.
    4. Điều kiện hưởng nước Chúa
    Vẫn dựa trên nền tảng: Nước Thiên Chúa không phải là chuyện ăn chuyện uống, nhưng là sự công chính, bình an và hoan lạc trong Thánh Thần. Như vậy, điều kiện để hưởng nước Chúa chính là sống và lớn lên trong Thánh Thần. Chúng ta phải tin rằng Thánh Thần đang thực sự sống trong tâm hồn mình, từ đó tập sống trong Ngài ngày này qua ngày khác. Nhờ Thánh Thần là nguồn sống, nguồn sức mạnh nâng đỡ, dìu dắt ta bước đi trong đới sống mới - một cuộc sống dối dào bình an, hoan lạc. Chính lúc này chúng ta cảm nhận được rằng chúng ta đang thực sự vui hưởng Thiên Đàng ngay tại trần gian này với hương vị ngọt ngào của niềm hạnh phúc nhẹ nhàng thanh thoát.
    Điều kiện nghe có vẻ rất dễ, nhưng cũng rất khó. Dễ đối với ai chịu mở lòng lắng nghe và đón nhận Lời Chúa vào lòng mình như một mảnh đất tốt, rồi thực tập sống. Nếu có gì khó khăn - mà chắc chắn là gặp rất nhiều khó khăn trong thời gian đầu - đừng ngại, chúng ta chỉ cần viết thơ chia sẻ trên một trang web nào đó, bảo đảm sẽ có hàng chục email bay về góp ý, nhờ đó ta sẽ tìm được cách lớn lên trong Thần Khí Thiên Chúa một cách tương đối dễ dàng. Nếu xem xong, nghe xong, ta dẹp sang một bên, thì không ai có thể sống thay cho mình, kể cả Chúa cũng đành chịu!!
    Xin lưu ý
    Vì chủ đề của bài này là Thiên Đàng, nên chúng ta có cảm tưởng rằng Thiên Đàng là mục đích cuối cùng của cuộc sống đời Kitô hữu. Thực ra, không phải vậy. Thiên Đàng chỉ là kết quả đương nhiên của cuộc sống kết hợp nên một với Chúa trong Thánh Thần. Đây mới chính là mục đích của đời sống tâm linh. Chính vì thế, điều khiến tâm đắc nhất, mối bận tâm nhất của chúng ta lúc này là sống trong Thánh Thần để cuộc đời kết hợp nên một với Chúa ngày càng hoàn hảo hơn, viên mãn hơn, trọn vẹn hơn. Và chính những giây phút ngọt ngào đó là lúc chúng ta đang hưởng Thiên Đàng ngay tại thế gian đầy vất vả, khó nguy với chông gai lởm chởm trên đường.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • DANH XƯNG CHA CON - Theo Ánh mắt Tâm Linh

    John of God Khổng Nhuận


    Cách đây hơn một năm, trong giới truyền thông đã nổ ra một cuộc bút chiến về chủ đề Danh xưng CHA - CON trong giáo hội Công giáo. Tôi cũng xin góp một vài ý về vấn đề rất tế nhị này.

    Theo Ánh Mắt Tâm Linh, dù bất cứ danh xưng nào đi nữa: cha con, anh em, thày em .. cũng không quan trọng. Nhưng tôi cảm nhận rằng đây chính là dịp rất tốt để mỗi người giáo dân chúng ta nhìn vào con người đích thực của mình.

    Chúng tôi đã trình bày tương đối gọn gàng và rõ ràng qua tiểu mục Ánh mắt Tâm linh trong các trang Web: chungnhanduckito.net, simonhoadalat.com, tinvui.org, dongcong.net, ngonnennho.co.nr, ngonnennho.blogspot.com, thanhlinh.net, tiengnoigiaodan.net, tuần báo điện tử Maranatha ….Đặc biệt là trong bài Đức Giêsu Kitô và Người Kitô hữu. Nơi đây tôi chỉ nhắc sơ lại ý chính.

    Theo tổ chức hữu hình trong Giáo hội thì chúng ta là những giáo dân, nhưng bản chất của chúng ta là người Kitô hữu. Có thể hiểu giáo dân là áo khoác, là nhãn hiệu, là con người giả, nay còn mai mất - mong manh như hoa dại ngoài đồng, một cơn thoảng cũng đủ làm nó biến đi, nơi nó mọc cũng không còn mang vết tích. Còn Kitô hữu mới là con người đích thực. Con người này cao quý vô cùng với những đặc điểm tuyệt vời. Chúng ta có thể tóm gọn vài hình ảnh sau đây:
    1.- Chúng ta là con yêu dấu của Cha.

    Chúng ta cũng là con yêu dấu của Cha dựa vào sự xuất phát của mình Chúng ta được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. (Ga 1:13).

    Ngài như một người Cha, biết rất rõ về đứa con thân yêu của mình: Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân." Gr 1:5). Không những Ngài biết giây phút xuất hiện của tôi mà Ngài còn thánh hoá tôi và trao cho tôi một sứ mạng rõ ràng: làm ngôn sứ của Ngài cho muôn dân.

    Thánh Gioan còn khẳng định: Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa (1Ga 3:1). Thánh Gioan đã xác quyết chúng ta thực sự là con Thiên Chúa; thế mà trước đây chúng tôi cứ tưởng là tôi tớ hạng bét ngay trong nhà Cha của mình. Thật là mọt sự hiểu lầm chết người!!!
    2.- Chúng ta là đàn em của Anh cả Giêsu

    Chính Đức Giêsu đã xác nhận Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em (Ga 20:17).

    Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu và tất cả đều cùng phát xuất từ một Chúa Cha qua lời chia sẻ đầy chân tình: Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em.

    Thánh Phao-lô còn khám phá ra một tư tưởng tuyệt vời: Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc (Rm 8:28-29). Đồng hình đồng dạng với Đức Kitô là điều Chúa Cha đã tiền định sẵn cho chúng ta. Thế mà chúng ta vô tình quên lãng dù chúng ta chắc chắn đã nghe cả chục lần, cả trăm lần… Rồi chúng ta lại tự xếp loại mình là phó thường dân, và tôn vinh những người có chức thánh làm đại diện Đức Kitô trong khi chính bản thân mình đồng hình đồng dạng với Đức Kitô.
    3.- Chúng ta tràn đầy Thánh Thần

    Vì quá thương yêu chúng ta, Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta (Rm 5:5)

    Mục đích cho chúng ta được sống dồi dào, viên mãn, mạnh mẽ: Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương,và biết tự chủ (2Tm 1:7).

    Khi chịu phép Rửa: Chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất (1Cr 12:13).

    Tóm lại, con người tâm linh của chúng ta được sinh ra bởi chính Thiên Chúa, giống hình ảnh của Ngài, là đàn em của Anh cả Giêsu, tràn đầy Thần Khí Thiên Chúa. Tất cả chúng ta đều là ngành, là nhánh của một thân nho Đức Kitô. Tất cả chúng ta lành anh chị em với nhau con một Cha trên trời.
    Danh xưng cha-con không có nền tảng Kinh Thánh

    Bây giờ chúng ta có thể rút ra kết luận thú vị:

    Theo Ánh Mắt Tâm Linh, vấn đề danh xưng cha-con thực ra chỉ thuần tuý thuộc lãnh vực văn hoá, nó chẳng dính dáng gì tới tâm linh. Chẳng có nền tảng Kinh Thánh một chút nào cả

    Còn nếu muốn dựa trên nền tảng Kinh Thánh để tìm hiểu xem vấn đề cha-con giữ vai trò gì, chúng ta cùng nhau xem lại lời Kinh Thánh mà thánh Phao-lô đã quả quyết:

    Vậy không còn phải phân biệt Hy-lạp hay Do-thái cắt bì hay không cắt bì, man di, mọi rợ, nô lệ, tự do, nhưng chỉ có Đức Ki-tô là tất cả và ở trong mọi người. (Cl 3:11)

    Thật thế, tất cả chúng ta, dầu là Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do chúng ta đều đã chịu phép rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất (1Cr 12:13)

    Quả thế, bất cứ ai trong anh em được thanh tẩy để thuộc về Đức Ki-tô, đều mặc lấy Đức Ki-tô. Không còn chuyện phân biệt Do-thái hay Hy-lạp, nô lệ hay tự do đàn ông hay đàn bà nhưng tất cả anh em chỉ là một trong Đức Ki-tô. (Gl 3:27-28).

    Vì không còn phân biệt chủng tộc, nam nữ, nên danh xưng chủ-tớ, thày-trò, cha-con chỉ có giá trị theo văn hoá nhân loại của từng vùng, từng quốc gia, từng thời đại.

    Chúng ta chắc hẳn vẫn còn nhớ câu chuyện nghe rất lạ tai trong Tin Mừng theo thánh Mác-cô 3:31-35.

    Mẹ và anh em Đức Giê-su đến, đứng ở ngoài, cho gọi Người ra. Lúc ấy, đám đông đang ngồi chung quanh Người.

    Có kẻ nói với Người rằng: "Thưa Thầy, có mẹ và anh em chị em Thầy ở ngoài kia đang tìm Thầy! "

    Nhưng Người đáp lại: Ai là mẹ tôi? Ai là anh em tôi? "

    34 Rồi Người rảo mắt nhìn những kẻ ngồi chung quanh và nói: Đây là mẹ tôi, đây là anh em tôi.35 Ai thi hành ý muốn của Thiên Chúa, người ấy là anh em chị em tôi, là mẹ tôi."

    Lúc đó ai đang ngồi chung quanh? Tất nhiên là các môn đệ và còn nhiều người khác đang lắng nghe Đức Giêsu Loan Báo Tin Mừng.

    Áp dụng Lời Kinh Thánh trên vào đời sống của mình, tôi bây giờ cũng âm thầm từ hào mình là mẹ của Đức Kitô - dù tôi là một người đàn ông, đơn giản chỉ vì bây giờ tôi đang sống Lời Chúa và tiếp tục sinh Đức Kitô trong lòng anh em khác, khi họ nhận ra sự hiện diện của Đức Kitô sống động trong lòng của họ, qua những chia sẻ rất chân tình của mình.

    Từ đó suy ra chủ-tớ, thầy-trò, cha-con, anh-em, chị-em … chỉ là cách nói thế gian,giống như thánh Phalô đã từng chia sẻ: Trong Đức Ki-tô Giê-su, nhờ Tin Mừng, chính tôi đã sinh ra anh em.(1Cr 4:15). Gửi anh Ti-mô-thê, người con tôi đã sinh ra trong đức tin. (1Tm 1:2).

    Có thực là Thánh Phao-lô sinh ra các tín hữu không? Chắc chắn không! vì cũng chính thánh Phao-lô đã từng tuyên bố: Tôi trồng, anh A-pô-lô tưới,nhưng Thiên Chúa mới làm cho lớn lên.7 Vì thế, kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả, nhưng Thiên Chúa, Đấng làm cho lớn lên, mới đáng kể. (1Cr 3:6-7).

    Thánh Phê-rô giải thích rõ hơn: Vì anh em đã được tái sinh, không phải do hạt giống mục nát mà do hạt giống bất diệt nhờ Lời Thiên Chúa hằng sống và tồn tại mải mãi… Đó chính là Lời đã được loan báo cho anh em như một Tin Mừng" (1 P 1: 23-25). Ý tưởng này xác định chúng ta được sinh lại do Lời Chúa chứ không phải bởi người Cha nào cả dù đó là Phê-rô hay Phao-lô hay A-pô-lô…

    Như thế chúng ta thấy rõ rằng, trong tâm tình cảm riêng tư đầm ấm, Phao-lô và Ti-mô-thê tự nhận là cha-con với nhau. Nếu Phao lô trẻ hơn nữa thì biết đâu họ lại tự nhận là huynh-đệ với nhau.

    Thánh Phao-lô đã ý thức rất mạnh mẽ: Kẻ trồng hay người tưới chẳng là gì cả - Chẳng là gì thì lấy tư cách chi để ngang nhiên tự nhận mình là cha. Ngay cả Đức Kitô, đi mòn gót miền thập tỉnh, công bố Lời Hằng Sống khan cả cổ suốt 3 năm trời, thế mà Ngài chỉ tuyên bố một câu nghe chẳng có vẻ gì uy quyền của người Cha: Ai có tai thì nghe!

    Rồi cuối cùng, chính Đức Giêsu phá luôn bức-tường-thầy-trò để thiết lập một tương quan mới: bạn-hữu-thân-tình: Thầy không còn gọi anh em là tôi tớ nữa, vì tôi tớ không biết việc chủ làm. Nhưng Thầy gọi anh em là bạn hữu,vì tất cả những gì Thầy nghe được nơi Cha Thầy, Thầy đã cho anh em biết.( Ga 15:15).

    Gương Thầy chí thánh rành rành ra đó, các limh mục - tự xưng là Kitô khác - có tự nguyện phá bức-tường-cha-con để xây dựng tương quan thân tình vui vẻ hoà đồng với mọi người bằng cách vui lòng chấp nhận cho giáo dân xưng hô với một từ nào đó mà người ta cảm thấy thoải mái nhất như linh mục, thầy, ngài, anh…tuỳ hoàn cảnh mà trong lòng vẫn còn quý mến mình. Tất nhiên không phải là cá mè một lứa.

    Đọc tới đây, chắc chắn chúng ta đã dễ dàng nhận ra: vấn đề danh xưng cha-con không hề có một chút nền tảng Kinh Thánh nào cả.

    Đó là những tâm tình chia sẻ xin chân thành gởi tới quý độc giả với một ước nguyện vĩ đại: đó là tất cả những người giáo dân chúng ta đều khám phá ra con người đích thực của mình. Còn chuyện xưng hô cha-con chỉ thuần tuý thuộc lãnh vực văn hóa. Chúng tôi nhận thấy tác giả Mỹ Duyệt đã viết một loạt bài trình bày về danh xưng cha-con có tính thuyết phục rất cao. Chỉ vài cái click mouse, quý vị đã có trong tay tất cả bài có liên quan tới Danh xưng cha-con trong Giáo hội.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Saturday, June 11, 2005


    aaa Posted by Hello
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • Monday, June 06, 2005

    CỐT TỦY CỦA KITÔ GIÁO Theo ánh mắt tâm linh

    Khổng Nhuận

    Đối với người Kitô hữu, cốt tủy của Đạo là một khâu rất quan trọng. Nó chi phối toàn bộ cuộc sống thường ngày của mình. Cốt tủy của Đạo diễn tả điều cao siêu nhất, sâu thẳm nhất, chính yếu nhất chi phối mọi điều phụ thuộc khác. Nó như một nền đá tảng vững chắc, vĩ đại mà chúng ta có thể xây cả một toà nhà tâm linh, bất chấp báo táp và mưa sa, sấm chớp và giông tố của cuộc đời. Nó là ngọn hải đăng tâm linh thức tỉnh sáng ngời trên đỉnh núi, phá tan màn đêm dày đặc đang bao phủ nơi trùng dương bát ngát, hướng dẫn những con thuyền cập bến bình an. Cốt tủy của Đạo được ví như Trung tâm chỉ huy, điều hành toàn bộ cuộc sống của một người Kitô hữu xoay quanh một cốt lõi chính yếu.

    Cốt tủy của Kitô giáo là gì?

    Qua 4 bài trước: Tình yêu Thiên Chúa, Thánh Thần, Đức Giêsu Kitô và Người Kitô hữu, chúng ta đã nhận thấy tư tưởng chủ yếu đã được nhắc đi nhắc lại nhiều lần. Tư tưởng này thấm đẫm từng trang như muối ướp cho đời thêm tươi, như ánh sáng soi cuộc sống tâm linh thêm rạng ngời; như mật ong hoà vào đời sống đạo thêm ngọt ngào hạnh phúc. Tư tưởng này chính là;

    Sống trong Thần Khí của Cha để kết hợp nên một với Cha.

    Tuy ngắn gọn như vậy nhưng thực ra câu này chia thành hai phần rõ rệt:

    Mục đích: Kết hợp nên một với Cha.

    Phương thế: Sống trong Thần Khí của Cha.

    Đây chính là đỉnh cao, là cốt tủy Kitô gíáo hướng dẫn cuộc sống đạo đích thực của người Kitô hữu. Muốn nắm được cốt ủy của đạo, chúng ta phải tìm hiểu sứ mạng của Đức Giêsu và Ngài đã thực hiện sứ mạng đó như thế nào bằng chính cuộc đời của Ngài.

    Sứ mạng của Đức Giêsu

    Đức Giêsu xuống thế gian này với mục đích gì? Hầu hết chúng ta trả lời: Dễ ợt, Ngài xuống thế chịu nạn chịu chết trên cây Thánh giá để chuộc tội cho nhân loại, để cứu độ loài người đang sống trong bóng tối sự chết, để đưa mọi người về Thiên đàng là nơi vui vẻ chẳng cùng. Amen. Trước kia, chúng tôi cũng hằng tin như vậy, nên chúng tôi ra sức làm việc lành phúc đức với hy vọng mong manh rằng mình sẽ được cứu độ sau khi giã từ cuộc sống trần gian.

    Sau này, chúng tôi lại khám phá ra rằng: Ngài xuống trần với một sứ mạnh rất rõ ràng: đó là để mạc khải về Chúa Cha: Thầy sẽ nói rõ cho anh em về Chúa Cha, không còn úp mở.(Ga 16:25).Nhưng khuôn mặt đích thực nhất của Cha mà Đức Giêsu muốn giới thiệu cho nhân loại là gì? Đức Giêsu xác tín rằng: Thiên Chúa là tình yêu: Thế gian sẽ nhận biết là chính Cha đã sai con và đã yêu thương họ như đã yêu thương con.(Ga 17: 23). Để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.(Ga 17: 26).

    Thật tuyệt vời, Chúa Cha yêu thương Đức Giêsu như thế nào thì Ngài cũng yêu thương chúng ta như vậy. Chứ không phải Chúa Cha yêu thương Đức Giêsu là con một yêu dấu của Ngài rồi tới Đức Maria, mẹ Đức Giêsu , kế đó tới các thánh tổ phụ, tiên tri, tông đồ, tử đạo, đồng trinh….cuối cùng rồi tới các hàng giáo phẩm, linh mục tu sĩ là những người Chúa chọn cách riêng, còn một vài giọt tình yêu mong manh!!! Chúa Cha mới chia cho hàng tỷ giáo dân lúc nhúc nơi phàm trần tối tăm này. Thực vậy, Cha yêu thương mỗi người chúng ta bằng cả một khối tình vĩ đại của mình. Hơn thế nữa, Ngài còn muốn nên một với chúng ta qua lời nguyện tha thiết và rất đỗi chân thành của Đức Giêsu: Con ở trong họ và Cha ở trong con, để họ được hoàn toàn nên một, như chúng ta là một. (Ga 17: 22-23). Chắc hẳn là Đức Giêsu đã nói nhiều về tình yêu của Cha, nhưng các môn đệ còn quá u mê, nên không hiểu được điều Thày mình muốn nói. Bằng chứng là ông Philipphê đã nói lên niềm mong ước : "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện." (Ga 14:8). Ắt hẳn là ông tưởng Chúa Cha sẽ hiện ra uy linh với ánh sáng chói lòa và sấm chớp rền vang với cột lửa bừng cháy thời Mo-sê. Mãi về sau, nhờ sống trong Thần Khí của Cha, các môn đệ mới khám phá ra khuôn mặt đích thực của Cha ngời sáng yêu thương: Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa-mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa.(1Ga 3:1).

    Chúng ta thấy đó, khuôn mặt đích thực của Cha là tình yêu vô biên. Và để chứng tỏ tình yêu bao la, khôn cùng đó: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. (Rm 5:5). Thánh Thần chính là sức sống thần linh và sức mạnh toàn năng của Ngài. Thêm vào đó: Thiên Chúa đã ban tặng chúng ta những gì rất quý báu và trọng đại Người đã hứa, để nhờ đó, anh em được thông phần bản tính Thiên Chúa. (2Pr 1:4). Đây là một ý tưởng có vẻ rất táo bạo mà thánh Phê-rô đã vừa phấn khởi vừa mạnh dạn quả quyết. Tôi thử chia sẻ tư tưởng này với một vài người bạn. Họ vừa ngạc nhiên vừa không thể chấp nhận nổi. Họ cuồng nhiệt phản đối: Mình là phàm nhân làm sao có thể thông phần bản tánh Thiên Chúa được? Như vậy là mình bằng Thiên Chúa hay sao? Kiêu ngạo!! phạm thượng!! Nghe chói lỗ tai quá!! Tôi gợi cho họ một chút suy tư: Đây là Lời ngôn sứ qua môi miệng của Phê-rô chứ đâu phải của cá nhân tôi tự mình mà nói ra đâu. Hơn nữa, bạn không biết sao? Chính Đức Giêsu đã khích lệ chúng ta: Vậy anh em hãy nên hoàn thiện, như Cha anh em trên trời là Đấng hoàn thiện.(Lc 5:48). Nếu chấp nhận mình hoàn toàn là phàm nhân yếu đuối thì không cách nào có thể hoàn thiện như Cha trên trời. Nhưng thử chấp nhận mình được Thiên Chúa cho thông phần bản tánh của Ngài, rất có thể chúng ta có khả năng trở nên hoàn thiện được chứ. Vì việc trở nên hoàn thiện này, không phải do sức cố gắng phàm nhân, nhưng là dựa vào sức mạnh của Thần Khí Thiên Chúa và nhờ mình được thông phần bản tánh thánh thiện của Ngài. Tắt một lời, Ngài đã trao cho ta tất cả, trọn vẹn - Thánh Thần tình yêu, sức mạnh và bản tánh thánh thiện của Ngài - Ngài không giữ lại cho mình điều gì.

    Nhưng tới đây, lại bật lên một câu hỏi quan trọng. Ngài ban chính mình Ngài cho ta để làm gì? Trả lời được câu hỏi này tức là ta đã nắm được cốt tủy của Kitô giáo. Thiên Chúa đã cho ta sự sống thần linh, sức mạnh của chính Ngài, bản tánh của Ngài chỉ vì muốn giúp ta Sống trong Thần Khí của Cha để kết hợp nên một với Ngài.

    Đây là vấn đề hết sức quan trọng và thực tế giúp chúng ta đi vào cuộc sống tâm linh thực sự. Biết rồi, nhưng làm cách nào để sống và lớn lên trong Thần Khí Thiên Chúa? May mắn thay, Chúng ta đã có mẫu gương tuyệt vời của Anh cả Giêsu và tông đồ Phao-lô.

    Gương Đức Giêsu

    Để thực hiện sứ mạng của mình, Đức Giêsu không chỉ nói suông về tình yêu của Chúa Cha mà Ngài còn sống kếp hợp nhuần nhuyễn với Chúa Cha của lòng mình qua việc sống trong Thánh Thần và dưới sự hướng dẫn của Thánh Thần.

    Vì đã được nói tương đối chi tiết trong bài Đức Giêsu Kitô, nên ở đây chúng ta chỉ cần lướt qua những điểm chính yếu. Ngay từ giây phút đầu tiên xuất hiện trong cung lòng mẹ Maria, Đức Giêsu đã đầy Thánh Thần và lớn lên trong sức mạnh, khôn ngoan và tình yêu của Thánh Thần (Lc 2:40). Thánh Thần hướng dẫn Đức Giêsu vào hoang địa, trở về Galilê. Rồi Thánh Thần theo từng bước chân Loan Báo Tin Mừng của Đức Giêsu dọc theo biển hồ, vào trong các làng mạc, thành phố. Vì tràn đầy Thần Khí, nên lời Đức Giêsu rao giảng rất khôn ngoan, không ai bắt bẻ được. Lời Ngài đầy uy quyền khiến người nghe phải sửng sốt và thán phục. Trong suốt ba năm rao giảng, Đức Giêsu ý thức rất rõ vai trò ngôn sứ của mình là chia sẻ lời Thiên Chúa - lời mang lại sự sống đời đời:Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là thần khí và là sự sống. (Ga 6;63). Đặc biệt nhất là Đức Giêsu đã chia sẻ cho chúng ta cảm nghiệm sống động trong việc kết hiệp nên một với Chúa Cha: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.(Ga 14:10). Cuối cùng cảm nghiệm đỉnh cao và tâm đắc nhất của Đức Giêsu để lại cho chúng ta: Tôi và Cha tôi là MỘT. (Ga 10:30).

    Gương thánh Phao-lô

    Kể từ biến cố Damas, Phao-lô bắt đầu mò mẫm, tìm kiếm, làm quen và tập sống trong Thần Khí Thiên Chúa. Sau 15 năm trời, Phao-lô đã viết tới 147 câu về Thần Khí. Ta có thể trích ra một số câu tiêu biểu: Khởi đầu từ một niềm tin căn bản: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. (Rm 5:5). Từ đó Phao-lô khám phá ra: Anh em lại chẳng biết rằng thân xác anh em là Đền Thờ của Thánh Thần sao? Mà Thánh Thần đang ngự trong anh em là Thánh Thần chính Thiên Chúa đã ban cho anh em. (1Cr 6: 19). Nhờ vào niền tin mãnh liệt này, trong cuộc sống thường ngày, Phao-lô rút ra một kinh nghiệm rất ư quý báu: Những ai sống theo tính xác thịt, thì hướng về những gì thuộc tính xác thịt; còn những ai sống theo Thần Khí, thì hướng về những gì thuộc Thần Khí.6 Hướng đi của tính xác thịt là sự chết, còn hướng đi của Thần Khí là sự sống và bình an. (Rm 8:5-6). Sống theo Thần Khí một thời gian, Ngài đã bị cuốn hút hoàn toàn bởi Thần Khí Thiên Chúa nên Ngài xác tín rằng: Chúng ta có sống là sống cho Chúa, mà có chết cũng là chết cho Chúa. Vậy, dù sống, dù chết, chúng ta vẫn thuộc về Chúa. (Rm 14:8).

    Đặc biệt là một khám phá cực kỳ thú vị: Thiên Chúa đã dành riêng tôi ngay từ khi tôi còn trong lòng mẹ, và đã gọi tôi nhờ ân sủng của Người.16 Người đã đoái thương mặc khải Con của Người cho tôi, để tôi loan báo Tin Mừng về Con của Người cho các dân ngoại. (Gl 1;15). Quả thật kỳ lạ, một Phao-lô đã từng hăng hái, hung hăng đi bách hại những người Kitô hữu thời giáo hội sơ khai, thế mà nhờ tìm hiểu và sống trong Thần Khí, Ngài đã khám phá ra mình không phải chỉ nhận được Thánh Thần từ biến cố Damas mà đã nhận được Thánh Thần ngay từ trong lòng mẹ - Phải - ngay từ trong lòng mẹ, Thiên Chúa đã dành riêng cho Phao-lô - set me apart - Jeremiah was destined to the office of prophet before his birth; cf Isaiah 49:1, 5; Luke 1:15; Gal 1:15, 16. I knew you: I loved you and chose you. I dedicated you: I set you apart to be a prophet. Tạm diễn nôm như sau: Phao-lô đã được tách ra, được dành riêng, giống như ngôn sứ Giê-rê-mi-a đã được tiền định làm ngôn sứ trước khi sinh ra: Ta đã yêu thương ngươi và đã chọn ngươi. Ta đã hiến thánh ngươi - cũng có nghĩa là tách ngươi ra để trở nên một ngôn sứ. Thực là tuyệt vời, ước gì một ngày nào đó, quý độc giả cũng hưởng được niềm hạnh phúc hoan lạc khi cảm nhận một cách sâu sắc: Ngay từ trong lòng mẹ, Chúa đã yêu thương tôi, Ngài đã chọn tôi, thánh hiến tôi và sai tôi làm ngôn sứ cho Ngài ngay môi trường tôi đang sinh sống: hàng xóm, công sở, công viên, hội đoàn, cộng đoàn, giáo xứ …. (cá nhân hoá từng quý độc giả)

    Cuối cùng, chí lớn gặp nhau, Đức Giêsu tuyên bố: Tôi và Cha tôi là MỘT. (Ga 10:30). Trong khi đó Phao-lô cũng cảm nghiệm rất ngọt ngào và hạnh phúc: Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi. (Gl 2:20). Hai lời phát biểu nghe có vẻ khác nhau nhưng kỳ thực mang cùng một ý nghĩa: Con người xác thịt Giêsu và con người xác thịt Phao-lô đã trở nên khí cụ để cho Chúa Cha, Đức Kitô sống động thực sự qua con người của mình. Đó chính là sự sống kết hợp, viên mãn tràn đầy: Để họ được nên một như chúng ta là một (Ga 17: 22). Họ ở đây chính là con người Giêsu, Phao-lô và mỗi người chúng ta nên một trong Thiên Chúa Ba Ngôi tình yêu.

    Tóm lại, Cốt tủy Kitô giáo bắt nguồn từ tình yêu Thiên Chúa. Để chứng tỏ tình yêu vô biên của Ngài, Thiên Chúa đã ban tặng Thánh Thần vào lòng ta. Thêm vào đó Ngài còn để lại cho chúng ta 2 tấm gương tuyệt vời là Đức Giêsu và thánh Phao-lô như là tấm bản đồ đầy đủ chi tiết minh hoạ con đường dẫn tới sự kết hiệp nên một với Chúa nhờ sống và lớn lên trong Thánh Thần ngay trong đời sống thường ngày của mình. Đây chính là nền đá tảng kiên cố để từ đó ta xây dựng ngôi nhà tâm linh vừa vững chắc vừa tuyệt hảo.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • CẦU NGUYỆN Theo ánh mắt Tâm linh

    Khổng Nhuận

    Cầu nguyện là một trong những phương thế tuyệt vời trên con đường nên thánh – nên một với Chúa. Có khá nhiều cách cầu nguyện. Mỗi phương pháp đều có những ưu điểm riêng. Mỗi người tự do lựa chọn cho riêng mình một lối cầu nguyện mang lại cho mình niềm bình an, vui tươi, hạnh phúc. Trong khuôn khổ bài này, tôi xin chia sẻ về đề tài này qua những điều mắt thấy, tai nghe, lòng cảm.
    Tùy ánh mắt nhìn Chúa mà có những cách thể hiện cầu nguyện khác nhau
    I. Cầu nguyện theo ánh mắt nhân loại
    1. Chúa là đấng ngàn trùng thánh đức, còn tôi chỉ là thảo dân – hèn mạt như cỏ cây hoang dại - vì vậy bổn phận của tôi là phải thờ phượng, cảm tạ, cầu xin. Vì thế, việc cầu nguyện thường được thể hiện qua việc đọc kinh hay nhắc lại theo người hướng dẫn.
    • Đọc kinh chung trong nhà thờ, hoặc trong gia đình. Các cha, các thầy vẫn thường nhắc miệng đọc lòng suy, nhưng từ bé tới lớn vẫn thường miệng đọc rang rang mà lòng cứ thoải mái bay bổng tận phương trời nào với niềm vui và nỗi buồn của riêng mình.
    • Nhắc lại như vẹt :
    Khi còn thơ, cha mẹ tôi đã dạy chúng tôi học thuộc lòng một vài lời cầu nguyện như :
    Xin Chúa cho gia đình con, chú bác, cô dì cậu mợ, bên nội cũng như bên ngoại được khỏe mạnh.
    Xin Chúa cho chúng con chóng về Bắc ( mới di cư được vài năm )
    Hiện nay các em thiếu nhi có vẻ khá hơn chúng tôi ngày xưa. Trong giờ cám ơn chịu lễ hay chầu mình thánh Chúa, các em thường nhắc lại những lời cầu nguyện của các giáo lý viên hướng dẫn y như vẹt. điển hình như : Xin cho con yêu Chúa nhiều (chẳng biết yêu Chúa là làm sao, chẳng biết làm cách nào để có thể yêu Chúa nhiều hơn) Xin cho con trở thành chứng nhân, đem Chúa đến cho các bạn cùng xóm (đúng là những từ rỗng tuếch mà tôi chắc chắn rằng bọn trẻ không thể nào hiểu nổi).
    2. Chúa biến thành ông thần đèn,
    Chỉ khi nào gặp rắc rối, khó khăn, bước đường cùng – không còn cách nào giải quyết, lúc đó tôi mới chạy đến Chúa để tỉ tê tâm sự thật thiểu não đủ cho Chúa nghe, sao cho Chúa mủi lòng và tôi thường dụ Chúa bằng những lời nghe có vẻ rất quyết tâm hoặc bằng những điều kiện như : Nếu Chúa nhận lời thì con sẽ ăn chay 2 ngày. Lúc này, Chúa được ví như vị thần đèn nghe chủ nhân sai bảo từ năn nỉ tới hờn giỗi nếu không được như ý ! !
    3. Chúa là Cha nhân lành
    Trong các cộng đoàn, chúng tôi có dịp cầu nguyện lớn tiếng. Thường mở đầu bằng : Chúng con xin ngợi khen và cảm tạ Cha vì …rồi sau đó : Xin Chúa ban cho … Xin Chúa lắng nghe và nhận lời chúng con.
    Đây là những lời cầu nguyện tự phát trong các nhóm cộng đồng cơ bản. Những lời cầu nguyện này thường xuất phát từ thực tế nên có phần tích cực và sống động hơn. Có nhiều người đã dùng lối cầu nguyện này với tình con thảo nên đã nhận được rất nhiều ơn và họ ngày càng tin tưởng lòng thương xót của Chúa luôn bảo vệ, chở che, giúp họ tìm được bình an trong cuộc sống.
    Tuy nhiên nếu cuộc sống nội tâm không tiến cao hơn thì sau 2 - 3 năm, e rằng lời cầu nguyện sẽ bị luẩn quẩn ở những đề tài cũ mèm, đôi khi rất chung chung, ví dụ như :
    Con xin cảm tạ Cha vì Cha đã ban muôn hồng ân cho gia đình con trong tháng vừa qua…
    Xin Chúa đổ đầy Thần Khí trên chúng con (mãi mà chẳng có ai cảm thấy dồi dào Thần Khí hơn, vẫn cứ vơi vơi, mờ mờ như cũ)
    Xin Chúa cho có nhiều anh chị em dấn thân ra đi Loan Báo Tin Mừng ( trong khi con người cũ chưa đổi mới trong Thần Khí (Ep 4: 22-24) và tâm hồn chưa cảm nhận được niềm hoan lạc đích thực trong Thần Khí thì lấy gì mà loan báo Tin vui, Tin Mừng ! )
    4. Chúa trở thành người bạn tâm tình
    Thay vì thì thầm tâm sự, tôi viết nhật ký. Phương cách này xem ra có vẻ chân thành hơn một chút vì thường là kể lể những gì xảy ra trong ngày. Lúc này Chúa giống như một người bạn để tôi thổ lộ cõi lòng.
    Thời gian viết nhật ký giúp tôi gắn bó với Chúa hơn vì tôi thường viết trong nhà thờ lúc vắng người, nên tôi cũng nếm được những giây phút ấm áp bên lòng Chúa.
    5. Tôi thành người bạn tâm tình của Chúa qua việc suy niệm dựa trên tình cảm.
    Tôi đặt mình trước mặt Chúa và để cho dòng tư tưởng tuôn chảy : mến, yêu, thậm chí thương hại Chúa vì Chúa cô đơn một mình trong nhà tạm; có khi thấy tội nghiệp Chúa quá. Vì yêu thương nhân loại mà Chúa đã chịu đánh đòn, đội mão gai và chết tức tưởi trên thánh giá. Lúc đó, tôi quyết tâm hy sinh thật nhiều để đáp lại tình yêu Chúa, để an ủi nỗi đau thương mà Chúa đã gánh chịu. Cách cầu nguyện này biết đặt Chúa lên trên mình, biết quan tâm tới Chúa nhiều hơn, nên cái mùi vị kỷ của mình, gia đình mình, nhóm mình đã được giảm bớt.
    6. Cầu nguyện bằng cách suy niệm dựa trên lý trí
    Tôi tận dụng những tư tưởng trong sách đạo đức để suy ngẫm về Ngài. Đọc một câu Kinh Thánh hay một đoạn sách đạo đức, tôi suy đi gẫm lại và chợt khám phá ra một vài điều mới lạ khiến cho trí não tôi sáng ra. Tôi có cảm tưởng mình biết Chúa nhiều hơn ngày trước. Đây là cách cầu nguyện khá hơn dựa trên tình cảm vì tình cảm lúc nồng ấm, lúc lạnh nhạt, lúc tha thiết, lúc thờ ơ, thậm chí có lúc khô như ngói. Trong khi cầu nguyện dựa trên lý trí ổn định hơn nhiều.
    Tóm lại, theo ánh mắt nhân loại, tôi cho rằng Chúa là một đấng ở ngoài tôi, nên tôi phải kính sợ Ngài như vị vua Chúa cao sang. Rồi tôi đã cố gắng tiến đến gần Ngài trong tâm tình người con, người bạn, thậm chí như người tình (đặc biệt dành cho phái nữ, họ đã gọi Ngài là Đấng-Tình-Quân). Và tôi vận dụng cả tình cảm lẫn lý trí để tìm kiếm Ngài, nhưng Ngài cứ như ốc đảo xanh tươi chập chờn trên sa mạc cháy bỏng, lúc nào cũng thấy trước mặt, nhưng không bao giờ thưởng thức được những dòng nước trong lành và nằm nghỉ ngơi thảnh thơi dưới bóng cây râm mát. Tất cả chỉ vì một nguyên nhân duy nhất đó là tôi tự tách tôi ra khỏi Ngài, rồi tôi lại quay ra cố tìm kiếm Ngài ! Khác chi cá bơi đang trong nước mà cứ mong kiếm tìm nước.

    II . Cầu nguyện Theo ánh mắt tâm linh

    Theo ánh mắt tâm linh, Chúa không còn hình tướng như vua chúa cao sang, người cha nhân lành, người bạn thân thương, người tình chí ái….mà Chúa chính là nguồn sống của tôi, nguồn sức mạnh của tôi, là chủ đích thực cuộc đời tôi. Vì thế tôi có thể cầu nguyện bằng cảm nghiệm tâm linh và cầu nguyện bằng chính cuộc sống phàm trần này.
    1. Cảm nghiệm tâm linh
    Trước kia, sau khi rước Chúa, tôi đọc kinh Cám ơn Sau khi Rước lễ. Lớn lên một chút, tôi biết cảm tạ, xin ơn theo sách đạo đức hướng dẫn. Rồi tôi biết tâm sự tỉ tê với Chúa đủ điều … Lớn hơn nữa, tôi lên rước Chúa như người máy, về chỗ ngồi, tôi tiếp tục để tâm trí bay vởn vơ như cánh bèo trôi dạt trên dòng đời không định hướng. Sau khi khám phá ra Ngài, tôi không tâm sự, không suy niệm, nhưng tôi thường lắng lòng xuống, “nghe” sự sống của Chúa lan toả trong tôi. “Cảm” sự sống của Chúa thấm nhập từng tế bào thân thể tôi. Toàn thân tôi đắm chìm trong Ngài, hoà tan trong Ngài đến nỗi tôi không còn là tôi nữa, mà chính là Chúa đang hiện diện và sống động trong tôi. Tôi sung sướng nếm hưởng bình an và hoan lạc trong Thánh Thần.(Rm 14:17)
    Trong ngày, thỉnh thoảng tôi cũng dành vài phút chìm vào trong Ngài – chìm thực sự chứ không phải rước lễ thiêng liêng hình thức như tôi đã từng làm, mà chắng cảm nhận được gì - Và đặc biệt là trước khi đi ngủ, tôi thường ngồi hoặc nằm thư giãn để nghe và cảm nhận sự sống thần linh của Ngài lan tỏa khắp châu thân và từ từ đi vào giấc ngủ bình an.
    2. Cầu nguyện bằng cuộc sống
    Cảm nghiệm bằng tâm linh trong một khung cảnh thánh thiện nơi thánh đường hay trong một căn phòng yên tĩnh giữa đêm trường để hoà tan, để nên một với Chúa, tuy rất khó đối với người bình thường, nhưng tương đối dễ đối với người đối với người sau nhiều tháng ngày tu luyện vì chỉ có một thân một mình, không bị ai quấy rầy. Đến khi va chạm vời đời, gặp gỡ người này, làm việc với người khác, cuộc tranh đấu đôi khi rất gắt gao nhưng vẫn ở trong tình trạng tỉnh thức thì quả là cực kỳ khó. Tuy nhiên nếu ta quyết tâm bền chí luyện tập thì chắc chắn sẽ đạt được kết quả tốt đẹp. Giờ phút sống kết hợp nên một với Chúa sẽ tăng dần, tăng dần cho tới trình độ kha khá, người ta không còn phân biệt giữa nhập thế và xuất thế, giữa làm việc và cầu nguyện. Bởi vì ngay lúc tôi nhập thế tức là tôi xuất thế, ngay lúc tôi làm việc tức là tôi cầu nguyện. đây là tâm tình của người Sống trong thế gian nhưng không thuộc về thế gian (Ga 17:16). Nói cách khác, cả đời tôi là một lời cầu nguyện liên lỉ : dù ăn, uống, ngủ, nghỉ, làm việc, kể cả việc vợ chồng yêu nhau trên giường… tất cả đều được thực hiện trong tâm tình kết hợp nên một với Chúa. Thánh Phaolô đã viết lại kinh nghiệm này trong Thesalonica 5:10 : Dầu thức hay ngủ, chúng ta cũng sống với Người.
    Tôi rất tâm đắc lời của Đức Giêsu nói với ông Philiphê : Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga 14:10)
    Ai làm chủ hành động của Đức Giêsu ? Rõ ràng bên ngoài là Đức Giêsu chứ còn ai, nhưng người chủ hành động đích thực lại chính là Chúa Cha - đấng luôn ở trong Đức Giêsu - chính Ngài đang thực hiện công trình của mình.
    Và thánh Phao lô cũng để lại cho chúng ta cảm nghiệm nổi tiếng : Tôi sống, nhưng không còn phải là tôi, mà là Đức Ki-tô sống trong tôi.(Gl 2;20)
    Hiện nay, tôi cũng có thể xác tín cảm nghiệm của mình : Tôi sống, nhưng không còn là tôi sống, mà là Chúa sống trong tôi.
    Ba lời khác nhau, nhưng đều diễn tả một cảm nghiệm thú vị tuyệt vời trong tình trạng hiệp nhất với Chúa : Tôi và Chúa Cha là một. (Ga 10:30). Tôi thầm nghĩ rằng : tất cả những ai đã thực sự sống trong Chúa, khi đọc bài này, chắc sẽ mỉm cười và nhủ thầm : “Tay này hiểu được tâm ta”
    Theo lối nhìn Ánh Mắt Tâm Linh, đây chính là trình độ cao nhất, tuyệt vời nhất của cầu nguyện.
    Tóm lại, cầu nguyện có nhiều cách thức; từ đọc lải nhải tới tỉ tê tâm sự; từ cầu nguyện tự phát tới suy niệm về Chúa; từ cảm nghiệm tâm linh tới đỉnh cao cầu nguyện bằng chính cuộc sống thường ngày của mình. Độc giả thấy phương pháp nào hợp với mình nhất thì cứ như vậy mà thực hiện trong đời sống thường ngày của mình. Cho tới khi nào cảm thấy cần phải thay đổi thì mạnh dạn thay đổi cách cầu nguyện sao cho việc kết hợp với Chúa ngày càng gắn bó hơn. Mong quý vị cao minh chia sẻ thêm về cầu nguyện để những người Kitô hữu có thể rút ra những tư tưởng tuyệt vời giúp cho cuộc sống đạo của chúng ta ngày càng thánh thiện như Cha trên trời.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • TÌNH YÊU THIÊN CHÚA

    Khổng Nhuận

    Tình yêu Thiên Chúa óng ánh muôn màu kỳ diệu như một viên kim cương lấp lánh dưới ánh nắng ban mai chiếu dọi. Mỗi người mang một ánh mắt nhìn khác nhau



    1. Theo cặp mắt nhân loại

    Tình yêu Thiên Chúa là một trong những đề tài được nhiều tác giả sáng tác nhất với giai điệu tuyệt vời. Lời ca được dệt từ gợi hứng của Thánh vịnh xoay quanh những ý chính: tình yêu Thiên Chúa vô biên, không bờ không bến. Tình yêu Thiên Chúa vươn lút ngàn mây, như trăng như sao, bao la như biển khơi….



    Trong cộng đoàn, anh em thường họp nhau hàng tuần hoặc hàng tháng và chia sẻ cho nhau nghe những ân huệ họ đã nhận được. Tôi đã nghe hàng trăm lời ca ngợi tình yêu Thiên Chúa đại loại như sau:

    · Đang thất nghiệp dài dài, bỗng nhận được việc làm ngon cơm do anh bạn giới thiệu.

    · Sáng nay, chỉ một ly nữa là tôi bị xe tải nghiến chết!!!

    · Chỉ còn một căn nhà nữa là thần hoả đã thiêu rụi nhà tôi rồi!!!

    · Học bài chưa kỹ lắm, thế mà Chúa vẫn cho đậu!!!

    · Hôm qua, tớ chở hàng lậu, thế mà Chúa đã bịt mắt công an, nên tớ thoát nạn!!!

    · Tuần trước, gặp tai nạn ô tô, hành khách bị chết gần nửa xe, số còn lại ai cũng bị thương, trong khi tôi bị văng ra khỏi xe mà chỉ bị trầy xước sơ sơ. Tạ ơn Chúa!!!

    · Nhờ cộng đoàn cầu nguyện, chồng tôi đã bỏ được rượu.

    · Huynh trưởng bọn tôi làm luộm thuộm vậy mà Chúa vẫn cho cộng đoàn gia tăng số thành viên.

    · Thiên Chúa tốt lành quá, bao nhiêu bom đan đều rơi vò khu dân cư bên cạnh còn chúng tôi bình an vô sự !!



    Và còn 1001 chuyện kì diệu khác mà Chúa đã làm cho cá nhân và công đoàn….

    Rất tốt, rất tốt, nhờ thế mà họ gắn bó với cộng đoàn và nhờ thế, cuộc sống của họ cũng cảm thấy đỡ khổ hơn một chút. Nhưng… xét cho thật kỹ thì có tới 90% ân huệ đều thuộc về những chuyện trần gian. Như vậy đây chỉ là cái vỏ của tình yêu Thiên Chúa. Hay nói cách khác, đây chỉ là phần thêm vào làm cho tình yêu của Ngài có vẻ dễ thấy hơn. Đức Giêsu đã khẳng định Trước hết hãy tìm kiếm Nước Thiên Chúa và đức công chính của Người, còn tất cả những thứ kia, Người sẽ thêm cho.( Mt 6:33). Rõ ràng 1001 chuyện kỳ diệu trên chẳng dính dáng gì với nước Nước Thiên Chúa mà chỉ là những điều Ngài sẽ thêm Cho.



    Nếu cho rằng đó là cái vỏ, là đồ thêm cho, vậy cái ruột, cốt lõi của tình yêu Thiên Chúa nằm ở chỗ nào?



    2. Theo Kinh Thánh



    Để chứng tỏ tình yêu của Ngài, Thiên Chúa làm 2 việc:



    · Món quà chúng ta có thể thấy được:



    Tình yêu của Thiên Chúa đối với chúng ta
    được biểu lộ như thế này:
    Thiên Chúa đã sai Con Một đến thế gian
    để nhờ Con Một của Người mà chúng ta được sống.(1 Ga 4:9)



    Nói có sách , mách có chứng, không phải do tôi chế ra. Tình yêu Thiên Chúa được biểu lộ không phải bằng hàng ngàn ơn phúc Ngài ban cho tôi, mà chính là ở chỗ Ngài đã sai Đức Giêsu xuống trần để giới thiệu cho tôi một lối nhìn về Chúa Cha, một cuộc sống kết hợp nên một với Chúa Cha - một cuộc sống dồi dào, tự do, bình an và hạnh phúc đích thực.



    · Món quà chúng ta không dễ gì thấy được:



    Thiên Chúa đã tuôn đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. (Rm 5:5)



    Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được
    Thiên Chúa ở lại trong chúng ta,
    đó là nhờ Thần Khí,
    Thần Khí Người đã ban cho chúng ta.( 1Ga 3 : 24)



    Thiên Chúa không tuôn đổ tình yêu của Ngài bằng cách ban cho hết ơn này tới ơn khác, mà Ngài ban cho tôi Thánh Thần – hay nói cách khác – Ngài ban cho tôi chính Thần Khí của Ngài - sự sống của Ngài - để nhờ đó tôi sống bằng chính nguồn sống sung mãn của Ngài ở trong tâm tôi.



    3. Theo ánh mắt Tâm Linh



    Theo ánh mắt tâm linh, tình yêu Chúa trở nên quý trọng hơn nhiều, sâu thẳm hơn nhiều và đặc biệt là trọn vẹn một cách tuyệt vời.



    Nói là Chúa Cha sai Đức Giêsu xuống trần để cho chúng ta được sống dồi dào, tự do, bình an. Nhưng chúng ta thử giở Kinh Thánh ra xem Đức Giêsu đã xác tín như thế nào trong lúc trao đổi với các môn đệ về Chúa Cha trong Gioan chương 14: 7 -10



    7 Nếu anh em biết Thầy, anh em cũng biết Cha Thầy. Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người."

    8 Ông Phi-líp-phê nói: "Thưa Thầy, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện."

    9 Đức Giê-su trả lời: "Thầy ở với anh em bấy lâu, thế mà anh Phi-líp-phê, anh chưa biết Thầy ư? Ai thấy Thầy là thấy Chúa Cha. Sao anh lại nói: "Xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha"?

    10 Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình.



    Bấy lâu nay tôi cứ tin chắc như đinh đóng cột rằng: có một ông Chúa Cha râu tóc bạc phơ, sai con một của mình là Đức Giêsu xuống trần chịu nạn chịu chết trên cây thánh giá để cứu chuộc nhân loại, còn mình cứ việc vui vẻ hạnh phúc thoải mái trên thiên đàng. Nhưng khi suy đi nghĩ lại đoạn Kinh Thánh này, tôi mới khám phá ra rằng: bên ngoài tôi thấy Đức Giêsu đi đứng, nói năng, làm đủ thứ phép lạ nhưng thực ra Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Đức Giêsu, chính Người làm những việc của mình.



    Như vậy, theo ánh mắt tâm linh, tôi đã khám phá ra tình thương của Chúa thật bao la và sâu thẳm đến nỗi chính ngài đã xuống trần qua thân xác của Đức Giêsu, bằng chứng là chính Đức Giêsu đã quả quyết: Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người."

    Tình yêu Thiên Chúa đã vươn tới tuyệt đỉnh qua mong muốn của Đức Giêsu: để tất cả nên một, như Cha ở trong con và con ở trong Cha để họ cũng ở trong chúng ta… để họ được nên một như chúng ta là một.



    Thêm vào đó, tình yêu Thiên Chúa còn được biểu lộ trong việc Ngài ban Thánh Thần cho tôi. Trước kia, tôi cứ tưởng Chúa Cha như một ông chủ, cầm cái bình HỒNG ÂN rót vào hồn tôi từng giọt ân huệ Thánh Thần … Như vậy, Chúa Cha vẫn ở ngoài tôi và giao tiếp với tôi qua những ân huệ Ngài ban. Nhưng hoá ra không phải như vậy, bằng chứng là câu Kinh Thánh sau đây:



    Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. (2Tm 1:7)



    Thánh Thần - Thần Khí - có vẻ giống như món quà Chúa ban cho tôi, nhưng qua đoạn Kinh Thánh trên, tôi mới khám phá ra người cho và món quà là một - Bởi vì Thiên Chúa cũng chính là thần khí. ( Ga 4:24) Nói cách khác, để chứng tỏ tình yêu đối với tôi, chính Chúa Cha hiện diện trong tôi, sống với tôi, nên một với tôi, để tôi cũng được nên một với Ngài. Theo tôi cảm nghiệm, điều này mới là một minh chứng hùng hồn Chúa yêu tôi trọn vẹn, Ngài cho tôi hết – không giữ lại cho mình một chút gì.



    Đền đáp tình yêu.



    · Những người lãnh nhận ơn Chúa phải đền đáp sao đây trước Tình yêu Chúa bao la như vậy?

    Để đáp lại muôn ngàn hồng ân của Chúa, họ chỉ còn biết dâng lời ngợi khen và cảm tạ Chúa. Họ cho rằng như vậy là đủ lắm rồi, còn hơn rất nhiều người - những giáo dân khác không bao giờ biết tạ ơn Chúa.

    Họ thường đồng thanh hát : “Hồng ân Thiên Chúa bao la, muôn đời con sẽ ngợi ca ơn Người”. Phải, chỉ biết ca ngợi mà thôi. Chấm hết.



    · Theo ánh mắt tâm linh thì không chỉ như vậy. tôi xin kể một chuyện nhỏ nhỏ.

    Sau một năm hội họp với nhau, một anh huynh trưởng đã vừa hỏi vừa như căn vặn tôi:

    - Sao em chẳng xin ơn gì cho mình vậy?

    - Thú thật với anh, từ khi khám phá ra Chúa của lòng mình, em chẳng còn cảm thấy phải xin ơn gì cho mình nữa.

    - Trong lời ngợi khen - cảm tạ, sao em lại hay dùng những lời Kinh Thánh, nghe có vẻ lý thuyết, dậy dỗ người khác và không giống như kiểu cách của cộng đoàn.

    - Lại phải thú thật với anh, đây không phải là lý thuyết mà là từ trong tâm chân thành của em. Đơn giản chỉ vì em nhận thấy những Lời Chúa đó quả là hồng ân đích thực, sống động trong đời sống của em - chứ không lý thuyết, xa vời như ngày xưa.



    Cuộc đối thoại kiểu ông nói gà, bà nói vịt giống như cuộc đàm thoại giữa Đức Giêsu và ông Philipphê. Đức Giêsu đã nói “Ngay từ bây giờ, anh em biết Người và đã thấy Người." thế mà Philipphê vẫn còn cố nài nỉ: “Thưa Thày, xin tỏ cho chúng con thấy Chúa Cha, như thế là chúng con mãn nguyện”. Đức Giêsu hàng ngày sống trong Chúa Cha, nên một với Chúa Cha, đó là chuyện bình thường như ăn cơm, uống nước; trong khi Philipphê tưởng sẽ được gặp một Chúa Cha oai phong lẫm liệt, tràn đầy ánh sáng và quyền uy …



    Cũng vậy, có lẽ anh huynh trưởng của tôi quan niệm - với cặp mắt nhân loại: Chúa là Cha nhân lành, Ngài ban muôn vàn hồng ân – bổn phận ta phải cảm tạ, cầu xin, nếu không sẽ là đồ vô ơn, bạc nghĩa với Chúa – nên anh hoàn toàn ngạc nhiên không hiểu tại sao tôi lại không cảm tạ Ngài và đặc biệt là không bao giờ xin ơn Ngài. Có lẽ anh nghĩ: tay này có vẻ kiêu ngạo đây – không cần ơn Chúa.



    Trong khi đó, mối quan tâm hàng đầu của tôi là sống nên một với Ngài thì chuyện ngợi khen, cảm tạ và xin ơn cho mình thì có vẻ hơi thừa. Xin ơn gì bây giờ ? trong khi chính Thánh Thần - nguồn ơn Chúa - đang hiện diện và sống trong tôi? Hay nói cách khác: chính Chúa Cha sống trong mình thì còn ơn nào cao trọng hơn? Không lẽ lại nghe anh huynh trưởng, tôi phải để đẩy Ngài ra khỏi lòng mình, tôn Ngài lên làm vua cả nước trời - trên 9 tầng mây, để rồi lại quỳ mọp xuống năn nỉ, ỉ ôi từng ơn, từng ơn theo từng hoàn cảnh - như tôi đã sống từ mấy chục năm trước?



    Tại sao vậy ? Đơn giản chỉ vì tôi xác tín rằng: “Đừng tìm xem mình sẽ ăn gì, uống gì, và đừng bận tâm.30 Vì tất cả những thứ đó, dân ngoại trên thế gian vẫn tìm kiếm; nhưng Cha của anh em thừa biết anh em cần những thứ đó.31 Vậy hãy lo tìm Nước của Người, còn các thứ kia, Người sẽ thêm cho”.(Lc 12:29-31)



    Thực vậy, đối với tôi, một khi Cha của tôi đã thừa biết và chăm sóc tôi mà tôi còn xin xỏ thì tôi đã phạm vào những tội sau đây:



    - Tôi đã xúc phạm tới Chúa khi tỏ ra không tin tưởng tuyệt đối vào tình yêu của Ngài.

    - Tôi coi Chúa như ông già lẩm cẫm và hơi lãng tai, nên tôi cứ phải lải nhải: “Xin Chúa lắng nghe và nhận lời chúng con” dường như sợ Ngài không nhận lời cầu xin tha thiết của tôi giữa hàng tỷ người đang chen chúc cầu xin với hàng tỷ tỷ ơn huệ khác nhau.

    - Tôi phỉ báng tình yêu bao la của Ngài. Tôi nghĩ rằng: Ngài cũng chẳng quan tâm gì tới tôi giữa hàng tỷ người lúc nhúc trên mặt đất này. Ngài cũng đối xử với tôi theo kiểu thế gian, tức là: Phải đợi con khóc, mẹ mới cho bú tí.



    Nói như thế không có nghĩa là tôi bỏ bê việc cầu nguyện. Tôi vẫn cầu nguyện cho con cái tôi, anh em, bạn bè, và những người đang cần được nâng đỡ, ủi an trong giờ đọc kinh tối của gia đình. Nhưng tôi không còn cầu nguyện cho chính mình nữa.



    Tóm lại, qua tâm tình chia sẻ ngắn ngủi này, tôi chỉ muốn trình bày và xác tín rằng: cốt lõi tình yêu Thiên Chúa không phải là muôn vàn hồng ân, cũng không phải là những tài năng tôi đã nhận được, mà chính là Chúa Cha đã ban cho tôi Đức Giêsu và Thần Khí của Ngài – hay nói đúng hơn là chính Ngài tự hiến mình vì tôi một cách trọn vẹn. Đó mới chính là bản chất đích thực của tình yêu Thiên Chúa.



    Và để đền đáp tình yêu này, ngoài việc dâng lên lời cảm tạ trước mặt gia đình, cộng đoàn, tôi cho rằng sống kết hợp nên một với Chúa theo châm ngôn: Tôi sống, không còn là tôi sống, mà là chính Chúa sống trong tôi – Đó mới là cách đáp đền tình yêu Thiên Chúa một cách cụ thể, sống động và trọn vẹn nhất.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • THÁNH THẦN Theo Ánh Mắt Tâm Linh

    Khổng Nhuận



    Trước công đồng Vaticanô II, Thánh Thần là một ngôi vị bị lãng quên trong một góc trời xa lạ đầy huyền bí. Thánh Linh như ngọn lửa đom đóm leo lét, chập chờn giữa một đêm đông âm u giá lạnh kéo dài gần 14 thế kỷ. Thần Khí như ngọn gió hắt hiu trên sườn đồi cô đơn cuối chân trời. Mới khoảng 30 gần đây, các phong trào Thánh Linh, phong trào Canh Tân Đặc Sủng …phát triển khá rầm rộ với số thành viên lên tới hàng triệu người. Riêng ở Vietnam, có lẽ do hoàn cảnh đặc thù, nên những phong trào này mới được số ít người biết đến và hoạt động tương đối âm thầm.

    Nhìn chung, đại đa số giáo dân chúng ta vẫn còn xa lạ với Thánh Thần. Tại sao vậy? Có lẽ chúng ta vẫn còn mang cặp mắt nhân loại.
    Thánh Thần theo ánh mắt nhân loại
    Thánh Thần là Ngôi thứ Ba

    Thiên Chúa Ba Ngôi là tín điều căn bản của Công giáo mà Chúa nhật nào chúng ta cũng hát hoặc lớn tiếng tuyên xưng qua Kinh Tin Kính. Tuy Ba Ngôi một Chúa nhưng chúng ta vẫn thích tách Ba Ngôi ra làm ba khung trời riêng biệt. Cần tôn vinh, ngợi khen, cảm tạ ư? Ta đồng thanh hoặc âm thầm dâng những lời chúc tụng lên Chúa Cha. Cần tỉ tê tâm sự ư? Chúng ta có thể trò truyện với Chúa Giêsu hàng giờ. Cần xin Chúa soi sáng giúp mình làm một việc gì, lúc đó chúng ta mới chịu ghé qua Chúa Thánh Thần trong giây lát rồi lập tức vùi đầu vào công việc mà chúng ta đã ấp ủ và lên kế hoạch từ lâu rồi. Chúng ta còn tuyên xưng rằng: Tôi tin kính Đức Chúa Thánh Thần …Ngưòi cùng được phụng thờ và tôn vinh với Đức Chúa Cha và Đức Chúa Con…. Giả sử như sau thánh lễ Chúa nhật, có một người đứng ở cửa nhà thờ đưa ra một câu hỏi: Ông, bà đã thờ phượng và tôn vinh Đức Chúa Thánh Thần như thế nào? Chúng tôi nghĩ rằng có tới 90 % giáo dân chúng mình không trả lời được hoặc trả lời vu vơ. Như thế chứng tỏ một cách rõ ràng rằng chúng ta chỉ thích tuyên xưng ngoài miệng chứ không thực hiện niềm tin này vào trong cuộc sống. Lý do đơn giản là Ngôi Ba Thánh Thần dường như rất còn xa lạ với phần đông giáo dân chúng ta.

    Thánh Thần là đấng bảo trợ

    Trước khi hiến mình trên Thánh giá, Đức Giêsu đã hứa với các môn đệ: Thầy sẽ xin Chúa Cha và Người sẽ ban cho anh em một Đấng Bảo Trợ khác đến ở với anh em luôn mãi.(Ga 14:16). Khi còn sống nơi trần thế, Đức Giêsu là đấng bảo trợ các môn đệ của mình. Sau khi Đức Giêsu về trời, Chúa Cha đã ban cho chúng ta một Đấng Bảo trợ khác là chính Thánh Thần. Mang tiếng là Đấng bảo trợ và ở với chúng ta luôn mãi, nhưng thật oái oăm, Thánh Thần dường như không bao giờ được chúng ta nhớ tới trong những giờ phút lâm nguy. Thực vậy, mỗi khi đối đầu với đau khổ, khó khăn người thì vội chạy tới Mẹ Maria, kẻ thì tìm đến Thánh Giuse, Mac-ti-nô. Có người thích khăn gói quả mướp tới tận mũi Cà mau cầu xin với cha Diệp. Người khá giả có thể đáp máy bay sang cầu xin với Đức Mẹ Mễ-du, Đức Mẹ Lộ-đức …Hoá ra Thánh Thần chỉ được tiếng oai phong là Đấng Bảo trợ nhưng thực tế chúng ta vẫn cứ để Ngài ngồi chơi xơi nước !!!

    Thánh Thần là Đấng Hướng dẫn

    Thường thường, trước khi khởi sự làm việc gì đạo đức, chúng ta mới cùng nhau hát: Cầu xin Chúa Thánh Thần, Người thương thăm viếng hồn con … Cứ như thể suốt đời Ngài chu du khắp nơi và chỉ viếng thăm khi ta cầu xin Ngài. Ấy là chưa kể rất nhiều khi miệng ông ổng hát mà lòng trí vẫn bay bổng tới những phương trời vui chơi, giải trí, làm ăn, học hành.. thậm chí đầu óc còn mải toan tính việc trả thù rửa hận cho hả lòng. Hơn nữa, làm sao ta có thể nghe được tiếng của Ngài hướng dẫn mà làm theo?! Khó quá! Khó quá!

    Nếu chúng ta nhìn Thánh Thần với ba khuôn mặc kể trên: Ngôi Ba, Thần Bảo trợ, Thần hướng dẩn, chúng ta khó có thể làm quen với Ngài nói chi tới chuyện sống với Ngài. Như vậy tính sao dây? Có lẽ chúng ta nên xây dựng cho mình một lối nhìn sống động hơn về Thánh Thần.

    Thánh Thần theo ánh mặt tâm linh

    Một trong những viên ngọc quý - giữa kho tàng Lời Chúa mênh mông - mà Chúa muốn trao tận tay - không - Chúa muốn trao tận tâm hồn mỗi người chúng ta, đó là: Thiên Chúa đã đổ tình yêu của Người vào lòng chúng ta, nhờ Thánh Thần mà Người ban cho chúng ta. (Rm 5:5).

    Thánh Thần quả là món quà vô giá, tuyệt vời. Theo ánh mắt tâm linh, Thánh Thần sẽ hoá thành những khuôn mặt cực kỳ sống động và hấp dẫn.

    Thánh Thần là con tim tình yêu của Cha

    Vì quá yêu chúng ta, Chúa Cha đã trao cho chúng ta trọn vẹn trái tim thổn thức yêu thương của Ngài. Từ muôn thủa, Ngài đã tuôn đổ vào lòng ta con tim tình yêu Thánh Thần để chúng ta mãi mãi bơi lội trong biển tình thương bao la của Ngài. Ta hít thở tình yêu của Ngài, lớn lên trong tình yêu của Ngài. Đi dâu, ở đâu, tôi cũng nằm gọn trong vòng tay âu yếm của Ngài như anh cả Giêsu trong trái tim nhân lành của Chúa Cha: Con đã cho họ biết danh Cha, và sẽ còn cho họ biết nữa, để tình Cha đã yêu thương con, ở trong họ, và con cũng ở trong họ nữa.(Ga 17:26). Ta thấy đó, tình Chúa Cha yêu thương Đức Giêsu ở trong tâm chúng ta. Mà tình yêu thương này chính là Thánh Thần tình yêu của Chúa Cha yêu thương Đức Giêsu và mỗi người trong chúng ta. Còn gì hạnh phúc hơn??!! Thánh Gioan đã xác tín rằng: Căn cứ vào điều này, chúng ta biết được Thiên Chúa ở lại trong chúng ta, đó là nhờ Thần Khí, Thần Khí Người đã ban cho chúng ta.(1Ga 3:24). Chúng ta đều biết rằng nam nữ yêu nhau mong ước được ở bên nhau đã là khoái lắm rồi! Vợ chồng nên một xương một thịt thì sướng run cả người như cả hai đang tận hưởng hoan lạc nơi bồng lai tiên cảnh !! Tình yêu giữa Chúa và ta sâu đậm hơn nhiều vì Chúa ở trong ta và ta ở trong Chúa. Nam nữ, vợ chồng cùng lắm chỉ ở bên nhau mà thôi. Nhờ đâu mà ta biết được ta kết hợp với Chúa đậm sâu như vậy? Đó chính là nhờ con tim tình yêu Thần Khí - con tim này như một chất keo siêu dính, kết hợp chúng ta nên một với Chúa. Quả vậy, Thánh Thần chính là con tim tình yêu của Cha.

    Thánh Thần là sự sống thần linh của Cha

    Chúa Cha có sự sống nơi mình thế nào, thì cũng ban cho người Con được có sự sống nơi mình như vậy,(Ga 5:26). Sự sống thần linh ở đây chính là Thần Khí mà Chúa ban cho trưởng tử Giêsu. Có người chủ trương rằng chỉ riêng mình Đức Giêsu mới được độc quyền hưởng sự sống thần linh của Cha. Thực là nực cười!! Chủ trương như thế có khác gì hình ảnh cái đầu Giêsu thì tràn đầy sự sống thần linh của Cha trong khi thân thể của Ngài là chúng ta thì lại bị khô cứng hoặc thối rữa!! Vì thế, theo ánh mắt tâm linh, không chỉ mình Đức Giêsu mà còn cả mỗi người chúng ta đều được Chúa Cha thương ban sự sống thần linh của Ngài vào tâm hồn ta. Nhờ đó chúng ta mới cảm nhận được Thánh Thần gần gũi chúng ta biết bao!!

    Thánh Thần là sức mạnh thần kỳ

    Trong cuộc sống trần gian này, có biết bao điều làm cho tâm trí chúng ta chán nản, thân xác chúng ta mệt mỏi, rã rời khiến tâm hồn ta tràn đầy thất vọng, chỉ muốn buông xuôi tất cả. trong vũng sâu u hoài đó, ta lấy đâu ra sức mạnh thần kỳ để vượt qua, để vươn lên? Khỏi cần tìm đâu xa, chúng ta chỉ cần trầm tư một chút, ngắm nhìn tâm hồn mình để khám phá ra sức mạnh tiềm tàng ẩn giấu trong đó. Ta sẽ nhận ra kho sức mạnh quyền năng vô tận có thể giúp ta hoá giải hoặc vượt qua những yếu đuối một các khá dễ dàng mà không cần phải chiến đấu vất vả khổ sở bằng ý chí của đầu óc con người. Chính thánh Phao-lô đã chia sẻ cảm nghiệm về sức mạnh Thần Khí trong bản thân mình: Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ.(2Tm 1:7)

    Tóm lại, chúng ta còn có thể khai thác nhiều đặc điểm khác của Thánh Thần như nguồn chân lý, nguồn mạc khải, nguồn sự sáng, nguồn ân huệ, nguồn tự do, nguồn khôn ngoan, nguồn tái sinh và cứu độ, nguồn tinh luyện và thánh hoá … và còn nhiều nguồn khác mà các nhà thần học đã và đang ra công nghiên cứu. Ai cảm thấy thích nguồn nào thì lao đầu vào nghiên cứu, hy vọng khám phá được nhiều điều thú vị, rồi sống theo cảm nghiệm mình đã đạt được trong quá trình tu luyện và kiếm tìm.

    Trong khuôn khổ nhỏ bé của bài chia sẻ này, chúng tôi chỉ xin xoáy vào 3 khuôn mặt thân thương gần gũi của Thánh Thần mà chúng tôi tâm đắc nhất. Đó là 3 đặc tính của Thánh Thần: Con tim tình yêu, Sự sống thần linh và Sức mạnh thần kỳ của Cha.Nhờ đó, chúng tôi nhận ra sự hiện diện và hoạt động của Thánh Thần trong cuộc sống thường ngày của mình. Hôm nay, chúng tôi hân hạnh chia sẻ với quý vị độc giả như là một món quà kỷ niệm nhân ngày Giáo hội hân hoan mừng kính trọng thể Lễ Chúa Thánh Thần năm 2005 này.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • ĐỨC GIÊSU KITÔ

    Khổng Nhuận

    Người ta thường quan niêm về Đức Giêsu qua những hình ảnh vĩ đại như sau:



    · Ngài có nhân cách thu hút mạnh mẽ.

    · Ngài là một vị thủ lãnh đầy sức lôi cuốn.

    · Ngài là một người quyền năng phi thường, làm cho kẻ què đi được, người mù xem thấy, kẻ chết sống lại.

    · Ngài đã được các ngôn sứ báo trước hàng mấy thế kỷ. Sự xuất hiện của Ngài chia lịch sự nhân loại làm hai thời kỳ: Trước và sau công nguyên.

    · Đặc biệt là Đức Giêsu tuyên xưng mình là Thiên Chúa. Không một giáo chủ nào dám tuyên bố như vậy.



    Thế là giáo dân chúng ta tha hồ mà hãnh diện và đầy tự hào mình là tín đồ của một giáo chủ quyền năng nhất thế giới với những đặc điểm siêu việt, độc nhất vô nhị. Ngài trổi vượt hơn tất cả những giáo chủ khác trên trần gian này.



    Nhưng.. thật oái oăm !! Nếu chúng ta nhìn Đức Giêsu với ánh hào quang siêu nhân kể trên, vô tình chúng ta đẩy Ngài lên quá cao, quá xa, đến nỗi chúng ta chỉ còn biết bái phục, chiêm ngưỡng, thờ lạy Ngài mà thôi. Chúng ta khó lòng noi gương Ngài, bắt chước Ngài, bước theo Ngài và càng khó có thể sống mật thiết với Ngài. Khoảng cách ngàn trùng xuất hiện, ngăn cản bước chân trùng phùng giữa Chúa và ta. Lúc đó, ta chỉ còn thấy hình ảnh Đức Giêsu bao phủ tầng tầng lớp lớp ánh hào quang rạng ngời khiến ta vừa tự hào vừa xa lạ với Đức Giêsu uy quyền thánh đức: Khuôn mặt đích thực của Ngài đã bị méo mó trong tâm thức của chúng ta rồi.



    Vậy chúng ta nên nhìn Đức Giêsu với những khuôn mặt dễ thương sau đây:



    1. Đức Giêsu là con yêu dấu của Cha.



    Sau khi Đức Giêsu chịu phép Rửa trên sông Gio-đan, Chúa Cha đã công bố: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người." (Mt 3:17). Lần thứ hai, khi Đức Giêsu biến hình trên núi Tabor, Chúa Cha đã phán rằng: "Đây là Con yêu dấu của Ta, Ta hài lòng về Người. Các ngươi hãy vâng nghe lời Người! " (Mt 17:5).



    2. Đức Giêsu là Anh Cả của chúng ta



    Chính Đức Giêsu đã mở ra cho chúng ta một hy vọng chứa chan, một bầu trời tươi sáng khi xác quyết rằng: "Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em” (Ga 20:17).



    Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu qua những chia sẻ đầy chân tình: Thánh Tử là hình ảnh Thiên Chúa vô hình, là trưởng tử sinh ra trước mọi loài thọ tạo …Người là khởi nguyên, là trưởng tử trong số những người từ cõi chết sống lại, để trong mọi sự Người đứng hàng đầu. (Cl 1:15,18).



    Vì sao vậy? Vì Đức Giêsu và chúng ta cùng phát xuất từ một Chúa Cha: Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện, (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em.



    Hạnh phúc biết bao khi chúng ta biết rằng từ muôn thủa, Chúa Cha đã yêu thương chúng ta và nhất là: Chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:28-29). Vì chúng ta ta yêu mến Chúa, chúng ta được nên đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu để Ngài làm trưởng tử - Anh Cả giữa một đàn em đông đúc.



    3. Đức Giêsu sống kết hợp mật thiết với Chúa Cha trong Thánh Thần



    Đây là khuôn mặt đích thực, ngời sáng nhất. Khuôn mặt con yêu dấu của Cha và Anh Cả chỉ là khuôn mặt chuẩn bị cho khuôn mặt đích thực và ngời sáng này.



    Có người cho rằng Đức Giêsu đến trong thế giới không phải đề sống - nhưng là để chết. Tất nhiên là họ đề cao sứ mạng cứu chuộc nhân loại bằng hy sinh tự hiến mình trên Thánh Giá. Đúng thôi, nhưng từ năm 1964, Công Đồng Vaticanô II đã quan niệm sự cứu rỗi dưới hình thức hiệp thông với Ba Ngôi: Giáo hội phổ quát xuất hiện như “một dân tộc được hiệp nhất nhờ sự hiệp nhất giữa Chúa Cha, Chúa Con và Chúa Thánh Thần” ( Hiến chế Tín lý về Giáo hội 1:4) Đã nói tới hiệp nhất, lập tức chúng ta hiểu rằng sống trong nhau, cho nhau, vì nhau, nên một trong nhau. Trong Lời mở đầu Tin Mừng thánh Gioan, chúng ta dã bắt gặp một câu rất đơn giản, ngắn gọn như một các cửa sổ mở ra cả một khung trời bừng sáng yêu thương: Ngôi Lời vẫn hướng về Thiên Chúa (Ga 1:1). Như trái đất xoay quanh mặt trời, Đức Giêsu luôn hướng về Chúa Cha và lớn lên từ nguồn sống của Cha: Như Chúa Cha là Đấng hằng sống đã sai tôi, và tôi sống nhờ Chúa Cha (Ga 6:57). Sống nhờ Chúa Cha tức là sống nhờ Thần Khí của Cha. Hay nói cách khác , Đức Giêsu được đầy Thần Khí và sống dưới sự hướng dẫn và quyền năng Thánh Thần.



    Ngay giây phút đầu tiên nhập thể trong lòng Đức Maria, Đức Giêsu đã tràn ngập Thần Khí: "Thánh Thần sẽ ngự xuống trên bà, và quyền năng Đấng Tối Cao sẽ rợp bóng trên bà, vì thế, Đấng Thánh sắp sinh ra sẽ được gọi là Con Thiên Chúa.(Lc 1:35). Quyền năng Đấng Tối Cao cũng chính là Thần Khí Thiên Chúa không những bao phủ mà con thấm nhập toàn thân-tâm Đức Maria lẫn hài nhi Giêsu vừa mới xuất hiện trong cung lòng của Mẹ.



    Trong suốt thời kỳ ẩn dật tại Nazaret: Hài Nhi ngày càng lớn lên, thêm vững mạnh, đầy khôn ngoan, và hằng được ân nghĩa cùng Thiên Chúa.(Lc 2:40). Sức mạnh, khôn ngoan, ân huệ đích thực là hoa trái của Thánh Thần. Chứng tỏ Đức Giêsu đã lớn lên trong Thần Khí của Cha.



    Để mở đầu cho cuộc rao giảng công khai, Đức Giêsu đã chịu phép Rửa. Đang khi Người cầu nguyện, thì trời mở ra, và Thánh Thần ngự xuống trên Người dưới hình dáng chim bồ câu. Lại có tiếng từ trời phán rằng: Con là Con của Cha; ngày hôm nay, Cha đã sinh ra Con. (Lc 3:21-22). Chúng ta đừng tưởng Thánh Thần phải kiên nhẫn chờ đợi Đức Giêsu trưởng thành theo kiểu tam thập nhi lập, lúc đó Thánh Thần mới bắt đầu ngự xuống trên Ngài. Đây chỉ là diễn tả theo kiểu nói của nhân loại. Thực ra Thần Khí Thiên Chúa lúc nào cũng tràn đầy trong tâm hồn Đức Giêsu.



    Sau đó, Người được Thánh Thần dẫn vào trong hoang địa và chịu quỷ cám dỗ. (Mc 4:1). Đức Giêsu đã dành 40 ngày ăn chay, cầu nguyện để chuẩn bị cho cuộc Loan Báo Tin Mừng nước Thiên Chúa: Được quyền năng Thần Khí thúc đẩy, Đức Giê-su trở về miền Ga-li-lê (Lc 4: 14). Ta thấy đó từng bước chân của Đức Giêsu đều được Thánh Thần khuyến khích, thúc đẩy hăng hái ra đi bẳng những bước chân đon đả, như những bước chân của Đức Maria cũng đã từng đon đả lên miền sơn cước để đem Tin Mừng cho người chị họ Ê-li-da-bét và hài nhi Gioan vẫn còn trong bào thai.



    Chúng ta cùng nhau đọc lại Lời Chúa nền tảng mở đầu cho cuộc Loan Báo Tin Mừng của Đức Giêsu: Người vào hội đường như Người vẫn quen làm trong ngày sa-bát, và đứng lên đọc Sách Thánh…Thần Khí Chúa ngự trên tôi, vì Chúa đã xức dầu tấn phong tôi, để tôi loan báo Tin Mừng cho kẻ nghèo hèn. (Lc 4: 16,18). Như thế, công cuộc Loan Báo Tin Mừng cần phải có điều kiện trước tiên đó là Thần Khí Chúa ngự bên trên và Người sai đi. Tất nhiên chúng ta không thể hiểu máy móc Thần Khí Chúa ngự trên Đức Giêsu như một ông thần chỉ huy dẫn đường. Trái lại, Thần Khí vừa ở trên chiếu soi, vừa ở ngoài, bao phủ, chở che mà còn vừa ở trong như nguồn tình yêu, nguồn sức mạnh, nguồn sức sống thần linh. Chính vỉ thế Đức Giêsu đã mạnh mẽ tuyên bố: Thần khí mới làm cho sống, chứ xác thịt chẳng có ích gì. Lời Thầy nói với anh em là Thần Khí và là sự sống.(Ga 6:63)



    Vào những ngày cuối đời, Nhờ Thánh Thần hằng hữu thúc đẩy, Đức Ki-tô đã tự hiến tế như lễ vật vẹn toàn dâng lên Thiên Chúa. (Dt 9:14). Rồi trong phút lâm chung trên Thánh giá: Đức Giê-su nói: "Thế là đã hoàn tất! " Rồi Người gục đầu xuống và trao Thần Khí.(Ga 19:30).



    Sau khi sống lại, Đức Giê-su đến, đứng giữa các ông và nói: "Bình an cho anh em! "… rồi Người thổi hơi vào các ông và bảo: "Anh em hãy nhận lấy Thánh Thần.(Ga 20:19,22).



    Chúng ta thấy đó, từ khi hạ sinh trong lòng đức Maria cho tới lúc về trời, Đức Giêsu đã hiến trọn đời mình để sống và lớn lên trong Thần Khí của Cha nên Đức Giêsu mới khám phá ra một chân lý vừa cao siêu vừa thực tế mà Anh Cả Giêsu muốn ân cần trao tận tay chúng ta. Đó là cảm nghiệm thú vị tuyệt vời và sâu thẳm khi Đức Giêsu xác tín mình hoà nhập làm một với Chúa Cha, đến nỗi không thể nào phân biệt đâu là Giêsu đâu là Chúa Cha. Cảm nghiệm này được Đức Giêsu xác tín một cách mạnh mẽ với Phi-lip-phê: Anh không tin rằng Thầy ở trong Chúa Cha và Chúa Cha ở trong Thầy sao? Các lời Thầy nói với anh em, Thầy không tự mình nói ra. Nhưng Chúa Cha, Đấng luôn ở trong Thầy, chính Người làm những việc của mình. (Ga 14:10). Đã từ lâu chúng ta cứ tưởng Chúa Cha sai Đức Giêsu xuống trần, còn Ngài lo chuyện quan phòng chăm sóc con người và toàn thể vũ trụ. Nhưng qua niềm xác tín của Đức Giêsu chúng ta mới khám phá ra rằng Chúa Cha không những ngự trên trời mà còn hiện diện khắp mọi nơi, đặc biệt là trong tâm hồn mỗi người trong chúng ta để vừa cùng hoạt động với chúng ta vừa làm chủ công việc của chúng ta, khi chúng ta làm trong tâm tình kết hợp nên một với Ngài. Tới lúc này, ngôn ngữ hoàn toàn bất lực, không thể diễn tả được ngoài một tâm tình ngắn gọn: Tôi và Cha tôi là MỘT (Ga 10:30)



    Tóm lại, Đức Giêsu là con yêu dấu của Cha và cũng là Anh Cả của chúng ta. Điều hạnh phúc, niềm tự hào của chúng ta không phải ở chỗ chúng ta là tín đồ của một giáo chủ Giêsu siêu quần bạt những chúng với những nhãn hiệu bóng bảy như: nhân cách tuyệt vời, thủ lãnh siêu đẳng, quyền năng phi thường, độc nhất vô nhị…Nhưng ở chỗ chúng ta là đàn em của Anh Cả Giêsu rất gần gũi và rất đỗi thân thương.



    Sứ mệnh quan trọng nhất của Anh Cả Giêsu là nói cho chúng ta biết về Chúa Cha. Chúa Cha đã yêu thương chúng ta từ muôn thủa và ban Thánh Thần của Ngài cho chúng ta. Thánh Thần chính là tình yêu bao la, sức sống thần linh và sức mạnh thần kỳ của Ngài. Không chỉ nói mà thôi, Đức Giêsu còn sống và lớn lên trong Thần Khí của Cha từng ngày. Đây quả là một gương sáng vĩ đại, quý báu giúp chúng ta có thể bước theo Anh Cả Giêsu mà sống trong Thần Khí Cha ngày này qua ngày khác. Rồi một ngày gần đây, chúng ta cũng có thể cảm nghiệm được hương vị ngọt ngào tuyệt vời trong việc sống kết hợp với Cha. Lúc đó chúng ta cũng có thể chân thành chia sẻ với nhau điều mình tâm đắc nhất: Tôi và Cha tôi là một.
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  • NGƯỜI KITÔ HỮU

    Khổng Nhuận

    Con người chúng ta gồm có 2 phần: thân xác và tâm hồn. Hay con người trần thế và con người tâm linh.

    I. Con người trần thế

    Theo cái nhìn nhân loại, tôi là một con người có thân xác, trí tuệ, con tim.

    1. Con người Thân xác

    Con người mang xác phàm đã được sinh ra trong thời gian, theo tháng ngày lớn nhanh như thổi. Rồi từ từ yếu dần và chắc chắn một ngày nào đó nó sẽ bị huỷ hoại trong lòng đất hoặc thành tro bụi trong lò thiêu.

    2. Con người trí tuệ

    Biểu hiện đậm nét nhất nơi con người trí tuệ đó là quay quắt vì những tham vọng khôn nguôi. Tham vọng đủ thứ: quyền lực, tiền bạc, của cải, tình dục, danh vọng, thành công… Trong những cơn lốc này, con người như chiếc lá vàng cuối mùa bị cuốn hút vào cơn gió xoáy gây nên biết bao nỗi đau khổ, tang thương. Cho tới một lúc nào đó, chiếc lá bay tung lên trời thoát khỏi cơn lốc và hưởng được giây phút hạnh phúc bồng bềnh đem lại những ánh chớp hoan lạc và xao động - Đây không phải là hạnh phúc thật. Bởi vì chúng ta lại dễ dàng bị cuốn theo một cơn lốc khác, có khi còn mãnh liệt hơn. Tệ hại nhất là những khổ đau, thất bại trong quá khứ có thể trở thành những vết thương lòng mưng mủ từ bên trong, như một căn bệnh ung thư không bao giờ lành, gây nhức nhối cho nạn nhân. Rồi chính nhức nhối đó lại trở thành mũi tên tẩm thuốc độc hành hạ người thân và những người chung quanh.

    3. Con người tình cảm:

    Dù sống kiếp lưu đầy, ngục tù nhưng người ta vẫn xây biết bao nhiêu mộng cho cuộc đời mình. Đáng tiếc thay!! nhiều người tới giờ chết mà mộng ước vẫn còn dang dở. Ngay cả tình yêu, lẽ ra mang lại hạnh phúc, hoan lạc cho con người. Thế nhưng các bạn trẻ đã từng chuyền tai nhau: Yêu thì khổ, không yêu thì lỗ, thà khổ còn hơn lỗ. Thế rồi lao đầu vào thế trận bát quái tình yêu. Quả thật họ cũng hưởng được những giây phút hạnh phúc ngọt ngào bên nhau, nhưng rồi nghi ngờ, ghen tuông, lo lắng sợ đánh mất người mình yêu khiến cho người đang yêu phải ngậm đắng nuốt cay. Đến khi cưới nhau rồi người ta lại cho rằng hôn nhân là nấm mồ của tình yêu. Ông bà thường nói: Bây giờ vợ chồng chúng tôi sống vì nghĩa - nghĩa vụ vợ, bổn phận chồng - tình yêu chỉ còn là tấm hình kỷ niệm bạc màu theo thời gian mà chẳng ai buồn xem lại.

    Chỉ cần một chút phác thảo về đời người, chúng ta hẳn có thể đi tới kết luận. Theo cái nhìn nhân loại, đời quả là bể khổ, cuộc sống trên trần gian thật lắm vất vả, gian nan. Nguyên nhân chính yếu là vì con người nhắm mắt chạy theo thói đời. Thánh Gioan đã khuyên nhủ: Anh em đừng yêu thế gian và những gì ở trong thế gian. Kẻ nào yêu thế gian thì nơi kẻ ấy không có lòng mến Chúa Cha,16 vì mọi sự trong thế gian: như dục vọng của tính xác thịt, dục vọng của đôi mắt và thói cậy mình có của, tất cả những cái đó không phát xuất từ Chúa Cha, nhưng phát xuất từ thế gian; 17mà thế gian đang qua đi, cùng với dục vọng của nó. (1Ga 2:15-17). Vẫn biết là thế gian đang qua đi cùng với dục vọng của nó; nhưng khổ một nỗi, khi chúng ta đang ở trong cơn lốc trần gian chúng ta lại thấy nó rất thực, thực đến nỗi chúng ta sống chết với nó, chiến đấu, tranh giành để đạt cho bằng được tham vọng mà chúng ta đã cưu mang trong lòng bấy lâu nay. Cuối cùng, đạt được rồi, chúng ta lại đâm ra chán nản trước những ràng buộc hệ lụy của thói đời từng vòng từng vòng quấn chặt. Lúc đó ta lại muốn thoát ra mà không được. Hoặc bị rơi vào tình trạng tiến thoái lưỡng nan, đành nhắm mắt đưa chân vào góc trời tương lai xám xịt tối đen đầy những bão tố và mưa giông.

    Như những cánh lá cô đơn trên dòng thác cuộc đời, con người trần thế bị cuốn hút đi khắp nơi để rồi cuối cùng lao xuống vực sâu - kết thúc cuộc hành trình gian khổ điêu linh. Vĩnh biệt tất cả mà lòng còn rối bời hoang mang. Không hoang mang, lo âu sao được khi không biết thế giới mai sau nơi mình cô đơn một bóng bước vào một cuộc hành trình vô tận sẽ như thế nào!!

    May mắn thay! Không chỉ có con người thuần tuý thân xác với bao đau thương đắng cay trong cuộc đời và kết thúc bi thảm như thế, chúng ta còn mang hình ảnh con người tâm linh sống hoan lạc, bình an, hạnh phúc và ra đi trong niềm vui thanh thản.Thánh Phao-lô đã khám phá ra 2 gương mặt của con người trong tư tưởng sau: Những kẻ thuộc về đất thì giống như kẻ bởi đất mà ra; còn những kẻ thuộc về trời thì giống như Đấng từ trời mà đến. Vì thế, cũng như chúng ta đã mang hình ảnh người bởi đất mà ra, thì chúng ta cũng sẽ được mang hình ảnh Đấng từ trời mà đến.(Cr 15:48-49)
    II. Con người tâm linh

    Mang danh là Kitô hữu, chúng ta cũng đồng hình đồng dạng với Đức Giêsu Kitô với ba khuôn mặt giống Đức Giêsu như đúc:

    1. Chúng ta là con yêu dấu của Cha

    Ngày trước tôi cứ tưởng mình là vật mọn phàm hèn trước mặt Chúa cao sang thánh thiện, hóa ra hoàn toàn không phải vậy. Tôi cũng là con yêu dấu của Cha dựa vào sự xuất phát của tôi: Tôi được sinh ra, không phải do khí huyết, cũng chẳng do ước muốn của nhục thể, hoặc do ước muốn của người đàn ông, nhưng do bởi Thiên Chúa. (Ga 1:13). Bề ngoài tôi là con ông Y bà X, nhưng cha mẹ tôi chỉ là dụng cụ để Ngài sinh ra tôi ra trên chốn hồng trần này. Vì thế người Cha đích thực của tôi chính là Chúa Cha. Cha mẹ tôi không hề hay biết giây phút tôi xuất hiện trong lòng mẹ, không biết tôi sẽ là trai hay gái, không biết tính tình, tương lai tôi sẽ ra sao. Nhưng Chúa, Ngài biết hết: Trước khi cho ngươi thành hình trong dạ mẹ, Ta đã biết ngươi; trước khi ngươi lọt lòng mẹ, Ta đã thánh hoá ngươi, Ta đặt ngươi làm ngôn sứ cho chư dân."(Gr 1:5). Không những Ngài biết giây phút xuất hiện của tôi mà Ngài còn thánh hoá tôi và trao cho tôi một sứ mạng rõ ràng: làm ngôn sứ của Ngài cho muôn dân. Thánh Gioan còn khẳng định: Anh em hãy xem Chúa Cha yêu chúng ta dường nào: Người yêu đến nỗi cho chúng ta được gọi là con Thiên Chúa - mà thực sự chúng ta là con Thiên Chúa. (1Ga 3:1). Thánh Gioan đã xác quyết chúng ta thực sự là con Thiên Chúa; thế mà trước đây chúng tôi cứ tưởng là tôi tớ hạng bét ngay trong nhà Cha của mình. Thật là mọt sự hiểu lầm chết người!!!

    2. Chúng ta là đàn em của Anh cả Giêsu

    Dù đã được trình bày trong bài Đức Giêsu Kitô, nhưng những câu Kinh Thánh đó ngọt ngào quá đến nỗi, chúng ta nên vui mừng nhắc lại để niềm vui chúng ta được trọn vẹn hơn: Chính Đức Giêsu đã xác nhận:"Thầy lên cùng Cha của Thầy, cũng là Cha của anh em” (Ga 20:17).

    Một thời gian sau, Thánh Phao-lô đã khám phá vai trò trưởng tử của Anh Cả Giêsu và tất cả đều cùng phát xuất từ một Chúa Cha qua lời chia sẻ đầy chân tình: : Thật vậy, Đấng thánh hoá là Đức Giê-su, và những ai được thánh hoá đều do một nguồn gốc. Vì thế, Người đã không hổ thẹn gọi họ là các em, khi nói: Con nguyện sẽ loan truyền danh Chúa cho các em tất cả được hay, và trong đại hội Dân Ngài, con xin dâng tiến một bài tán dương. Bởi thế, Người đã phải nên giống các em mình về mọi phương diện, (Dt 2:11,12,17) - Dịch giả An-sơn Vị đã dùng từ các em thay cho từ anh em cho hợp với tâm tình Việt nam và mạch văn: Trưởng tử - Anh Cả đối với các em.

    Thêm vào đó, thực là hạnh phúc biết bao khi chúng ta biết rằng từ muôn thủa, Chúa Cha đã yêu thương chúng ta và nhất là chúng ta biết rằng: Thiên Chúa làm cho mọi sự đều sinh lợi ích cho những ai yêu mến Người, tức là cho những kẻ được Người kêu gọi theo như ý Người định. Vì những ai Người đã biết từ trước, Người đã tiền định cho họ nên đồng hình đồng dạng với Con của Người, để Con của Người làm trưởng tử giữa một đàn em đông đúc. (Rm 8:28-29). Thế là từ khám phá thú vị này, tương quan giữa chúng ta và Anh cả Giêsu đã mang màu sắc tình cảm gần gũi hơn, đầm ấm hơn. Chúng ta có thể tha hồ mà vui vẻ thổ lộ tâm tình. Đặc biệt là quyết tâm sống giống như Anh cả Giêsu trong tâm tưởng của người con yêu dấu với Chúa Cha yêu thương ngay trong lòng mình.

    3. Chúng ta sống kết hợp với Chúa trong Thánh Thần

    Từ khi nhận ra mình là con yêu dấu của Chúa, là đàn em của anh cả Giêsu, chúng ta mới có thể mở mắt ra và nhìn theo ánh mắt tâm linh toàn bộ cuộc sống đời Kitô hữu của mình.

    Trước hết, trở lại vấn đề căn bản của đời sống tâm linh: Thiên Chúa đã chẳng ban cho chúng ta một thần khí làm cho chúng ta trở nên nhút nhát, nhưng là một Thần Khí khiến chúng ta được đầy sức mạnh, tình thương, và biết tự chủ. (2Tm 1:7). Đây là nền tảng quan trọng trong đời sống tâm linh Kitô hữu. Thực vậy, giống như Anh cả Giêsu, chúng ta cũng được tràn đầy Thánh Thần. Chính Thánh Thần này là nguồn sức mạnh, tình thương và tự chủ. Thôi nhé, từ nay, giã từ tư tưởng bi quan: Tôi là vật phàm hèn. Tôi xấu xa tội lỗi. Tôi chẳng đáng Chúa thương. Tôi chẳng đáng Chúa ngự vào lòng (dù Ngài đã và đang sống trong ta ngay từ khi ta được hình thành trong lòng mẹ!!)

    Khi chịu phép Rửa: Chúng ta đều đã chịu phép Rửa trong cùng một Thần Khí để trở nên một thân thể. Tất cả chúng ta đã được đầy tràn một Thần Khí duy nhất.(1Cr 12:13). Thế mà trước đây chúng tôi chẳng hề ý thức một chút nào về Thần Khí tràn đầy tâm hồn mình. Chúng tôi chỉ đơn giản nghĩ rằng phép Rửa giống như một nghi thức gia nhập đạo công giáo. Được ghi tên vào sổ Rửa tội, lập tức tôi trở thành người Kitô hữu - một người Kitô hữu hình thức. Chính vì thế dù chúng tôi tin rằng đã khỏi tội nguyên tổ, nhưng chúng ta vẫn cảm thấy yếu đuối, lòng xiêu xiêu dễ hướng về điều xấu và sa ngã một cách dễ dàng trước bất cứ một cám dỗ nào.

    Lớn lên chút nữa, khi lãnh nhận bí tích Thêm Sức, chúng ta được dịp xác tín rằng Thánh Thần là nguồn sức mạnh toàn năng. nhờ sống trong Ngài, con người nội tâm của chúng ta trở nên vững vàng hơn: Nguyện xin Chúa Cha, thể theo sự phong phú của Người là Đấng vinh hiển, ban cho anh em được củng cố mạnh mẽ nhờ Thần Khí của Người, để con người nội tâm nơi anh em được vững vàng. (Ep 3:16). Thêm vào đó, thánh Phao-lô còn vui mừng chia sẻ: Người soi lòng mở trí cho anh em thấy rõ,…19 đâu là quyền lực vô cùng lớn lao Người đã thi thố cho chúng ta là những tín hữu. Đó chính là sức mạnh toàn năng đầy hiệu lực. (Ep 1:18-19). Nhờ được tràn đầy Thánh Thần, chúng ta cũng được liên kết với nhau nên một trong Chúa: Anh em biết Thánh Thần, vì Người luôn ở giữa anh em và ở trong anh em.(Ga 14:17). Thật vậy, … chúng ta được liên kết trong một Thần Khí duy nhất mà đến cùng Chúa Cha.(Ep 2:18). Nếu chúng ta sống kết hợp với Cha trong Thần Khí của Ngài ngày này qua ngày khác thì chắc chắn tới một lúc nào đó, chúng ta sẽ cảm nghiệm được như anh cả Giêsu đã từng tuyên bồ: “Tôi và Cha tôi là MỘT”

    Tóm lại, con người tâm linh của chúng ta được sinh ra bởi chính Thiên Chúa, giống hình ảnh của Ngài, là đàn em của Anh cả Giêsu. Noi gương Trưởng tử Giêsu, chúng ta sống nhờ Thánh Thần - sức sống thần linh của Cha, sức mạnh toàn năng của Cha - để tất cả nên một như Chúa Cha và Anh cả Giêsu là một.

    Nói như thế không có nghĩa là chúng ta trở thành thánh trong chớp mắt, làm người cõi trên, suốt ngày nghĩ chuyện trên trời; còn chuyện trần gian là đồ bỏ như rác rưởi, sao cũng được, bất cần. Hoàn toàn không phải vậy, người Kitô hữu phải bắt chước Anh cả Giêsu nhập thế, sống với đời, hoà mình với anh em, mang niềm vui, hạnh phúc đến cho những người khác tùy theo khả năng, tùy theo môi trường của mình. Chính vì thế, con người Kitô hữu không những là một con người tâm linh sống động, mà còn là một con người trần thế với tất cả tình cảm nhân loại như những người khác: buồn, vui, giận, thương…Tuy nhiên người Kitô hữu biết làm chủ tình cảm, tư tưởng của mình nhờ sức mạnh Thần Khí Thiên Chúa ngay trong tâm mình.

    Theo ánh mắt tâm linh, người Kitô hữu là sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa con người tâm linh và con người thân xác. Con người tâm linh càng lớn lên trong Thần Khí của Cha thì càng vững mạnh hơn khiến cho con người thân xác ngày càng bình an, vui tươi, yêu đời hơn. Dù phải sống giữa trăm chiều thử thách.

    Ta có thẻ kết luận bằng những Lời Chúa tuyệt vời sau đây: Sống theo sự thật và trong tình bác ái, chúng ta sẽ lớn lên về mọi phương diện, vươn tới Đức Ki-tô vì Người là Đầu. (Ep 4:15). Sống theo sự thật chính là sống theo Thần Khí, nhờ đó chúng ta sẽ sống đời Kitô hữu thật đồi dào, bình an, hạnh phúc: Như vậy, anh em sẽ được đầy tràn tất cả sự viên mãn của Thiên Chúa. (Ep 3:19)
    Cám ơn quí vị, xin mời vào trang sau đây:
  • NGỌN NẾN NHỎ
  •